HMS Concord (1916)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Concord
Hãng đóng tàu: Vickers Limited
Đặt lườn: 1 tháng 2 năm 1915
Hạ thủy: 1 tháng 4 năm 1916
Nhập biên chế: tháng 12 năm 1916
Số phận: Bị bán để tháo dỡ, tháng 9 năm 1935
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: lớp tàu tuần dương C
Kiểu: Tàu tuần dương hạng nhẹ
Trọng tải choán nước: 3.750 tấn (tiêu chuẩn)
Độ dài: 135,9 m (446 ft) (chung)
Sườn ngang: 12,6 m (41 ft 6 in)
Mớn nước: 4,45 m (14 ft 7 in)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước Parsons
8 × nồi hơi Yarrow
4 × trục
công suất 40.000 mã lực (29,8 MW)
Tốc độ: 52,8 km/h (28,5 knot)
Tầm xa: 10.930 km ở tốc độ 18,5 km/h
(5.900 hải lý ở tốc độ 10 knot)
Tầm hoạt động: 300 tấn dầu đốt (tối đa 824 tấn)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
329-336
Vũ trang: 5 × hải pháo BL 152 mm (6 inch) /45 caliber Mark XII (5×1) [1]
2 × pháo 76 mm (3 inch)
2 × hải pháo QF 2 pounder
1 × súng máy
2 × ống phóng ngư lôi 533 mm (21 inch)
Bọc giáp: đai giáp chính: 76 mm (3 inch) giữa tàu
38-64 mm (1,5-2,5 inch) mũi
51-64 mm (2-2,5 inch) đuôi
sàn trên: 25 mm (1 inch) giữa tàu
sàn chính: 25 mm (1 inch) bên trên bánh lái

HMS Concord là một tàu tuần dương hạng nhẹ thuộc lớp tàu tuần dương C của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc được chế tạo trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất, và thuộc lớp phụ Centaur. Việc chế tạo lớp phụ này, vốn còn bao gồm HMS Centaur, có sử dụng phần lớn những vật liệu đã được chuẩn bị cho việc đóng hai chiếc tàu tuần dương tuần tiễu, được Đế quốc Ottoman đặt hàng vào năm 1914, nhưng việc chế tạo bị ngừng lại sau khi chiến tranh nổ ra.

Concord được chế tạo bởi hãng Vickers Limited. Nó được đặt lườn vào ngày 1 tháng 2 năm 1915; được hạ thủy vào ngày 1 tháng 4 năm 1916; và được đưa ra hoạt động cùng Hải quân Hoàng gia vào tháng 12 năm 1916.

Trong chiến tranh, Concord được phân về Hải đội Tuần dương nhẹ 5, hoạt động cùng với Lực lượng Harwich để phòng thủ lối tiếp cận từ phía Đông của eo biển Anh Quốc, và đã sống sót qua suốt cuộc chiến tranh. Được xem là lạc hậu vào những năm 1930, nó bị bán cho hãng Metal Industries tại Rosyth, và được đưa đến xưởng tàu của hãng này vào ngày 16 tháng 9 năm 1935 để được tháo dỡ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]