HMS Diadem (84)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Diadem dock.jpg
Tàu tuần dương HMS Diadem
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Diadem
Hãng đóng tàu: R and W Hawthorn, Hebburn-on-Tyne
Đặt lườn: 15 tháng 12 năm 1939
Hạ thủy: 21 tháng 8 năm 1942
Nhập biên chế: 6 tháng 1 năm 1944
Xuất biên chế: 1950
Số phận: Bán cho Hải quân Pakistan, 29 tháng 2 năm 1956
Phục vụ (Pakistan) Naval Jack of Pakistan.svg
Tên gọi: Babur
Trưng dụng: 29 tháng 2 năm 1956
Nhập biên chế: 5 tháng 7 năm 1957
Đổi tên: Jahangir
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Dido
Trọng tải choán nước: 5.950 tấn Anh (6.050 t) (tiêu chuẩn)
7.200 tấn Anh (7.300 t) (đầy tải)
Độ dài: 485 ft (148 m) (mực nước)
512 ft (156 m) (chung)
Sườn ngang: 50 ft 6 in (15,39 m)
Mớn nước: 15 ft (4,6 m)
Động cơ đẩy: 4 × turbine Parsons
4 × nồi hơi Admiralty
4 × trục
công suất 62.000 shp (46.000 kW)
Tốc độ: 32,25 hải lý một giờ (59,73 km/h)
Tầm xa: 1.500 nmi (1.700 mi; 2.800 km) ở tốc độ 30 kn (35 mph; 56 km/h)
4.240 nmi (4.880 mi; 7.850 km) ở tốc độ 16 kn (18 mph; 30 km/h)
Tầm hoạt động: 1.100 short ton (1.000 t) tấn dầu
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
530
Vũ trang:

Ban đầu:
8 × pháo QF 5,25 inch (133 mm) Mark I (4×2);
12 × pháo phòng không 20 mm (6×2);
12 × pháo QF 2 pounder (40 mm) "pom-pom" (3×4);
6 × ống phóng ngư lôi 21 inch (530 mm) (2×3)
1945-1956:
8 × pháo QF 5,25 inch (133 mm) Mark I (4×2);
24 × pháo phòng không 20 mm (8×2,8×1);
12 × pháo QF 2 pounder (40 mm) "pom-pom" (3×4);

6 × ống phóng ngư lôi 21 inch (530 mm) (2×3)
Bọc giáp: Đai giáp: 3 in (7,6 cm);
Sàn tàu: 1 in (2,5 cm);
Hầm đạn: 2 in (5,1 cm);
Vách ngăn 1 in (2,5 cm)

HMS Diadem (84) là một tàu tuần dương hạng nhẹ của Hải quân Hoàng gia Anh thuộc lớp Dido được đưa ra hoạt động trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Năm 1956, nó được bán cho Hải quân Pakistan và hoạt động lần lượt dưới những cái tên BaburJahangir cho đến khi ngừng hoạt động vào năm 1985.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Diadem được chế tạo theo một thiết kế của lớp Dido được cải tiến, đôi khi gọi là Dido Nhóm 2 hoặc nhóm phụ Bellona, chỉ với bốn tháp pháo 5,25 inch thay vì năm, và một dàn hỏa lực phòng không được cải tiến. Nó được chế tạo tại xưởng đóng tàu của hãng R and W Hawthorn tại Hebburn-on-Tyne, Anh Quốc; được đặt lườn vào ngày 15 tháng 12 năm 1939. Nó được hạ thủy vào ngày 21 tháng 8 năm 1942, và được đưa ra hoạt động vào ngày 6 tháng 1 năm 1944.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Khi được đưa vào hoạt động, Diadem đã phục vụ hộ tống Đoàn tàu vận tải Bắc Cực và bảo vệ cho các cuộc tấn công bằng tàu sân bay nhắm vào thiết giáp hạm Đức Tirpitz vào những tháng đầu năm 1944. Nó nằm trong thành phần Lực lượng G hỗ trợ cho bãi Juno trong cuộc đổ bộ Normandy vào tháng 6; và sau cuộc đổ bộ đã thực hiện các chuyến tuần tra tấn công các tàu bè Đức chung quanh bờ biển Brittany, cùng các tàu khu trục đánh chìm chiếc Sperrbrecher 7 ngoài khơi La Rochelle vào ngày 12 tháng 8. Nó quay trở lại vùng biển phía Bắc vào tháng 9, nơi nó hộ tống các đoàn tàu vận tải đi đến Nga và bảo vệ cho các cuộc không kích bằng tàu sân bay xuống các tuyến đường hàng hải của Đức dọc theo bờ biển Na Uy, cũng như trực tiếp thực hiện các cuộc càn quét. Trong một đợt càn quét như vậy, có tàu tuần dương HMS Mauritius tháp tùng vào ngày 28 tháng 1 năm 1945, Diadem đã đối đầu với ba tàu khu trục Đức, gây hư hại cho chiếc Z31. Nó tiếp tục ở lại cùng Hải đội Tuần dương 10 cho đến sau chiến tranh, rồi phục vụ cùng Hạm đội Nhà cho đến năm 1950. Chiếc tàu tuần dương được đưa về lực lượng dự bị từ năm 1950 đến năm 1956.

Vào năm 1956 Diadem được thỏa thuận để bán cho Pakistan; và sau khi được tái trang bị nó được chuyển giao cho Hải quân Pakistan vào ngày 5 tháng 7 năm 1957, được đổi tên thành Babur. Sau đó nó còn được đổi tên một lần nữa thành Jahangir, và được cải biến thành một tàu huấn luyện học viên hải quân vào năm 1961. Cuối cùng con tàu được cho ngừng hoạt động năm 1985.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]