HMS Javelin (F61)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Javelin 1941 IWM FL 10524.jpg
Tàu khu trục HMS Javelin (F61) vào năm 1941
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Javelin (F61)
Hãng đóng tàu: John Brown and Company
Đặt lườn: 11 tháng 10, 1937
Hạ thủy: 21 tháng 12, 1938
Nhập biên chế: 10 tháng 6, 1939
Số phận: Bán để tháo dỡ, 11 tháng 6, 1949
Đặc điểm khái quát [1]
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục J
Trọng tải choán nước: 1.690 tấn Anh (1.720 t) (tiêu chuẩn)
1.965 tấn Anh (1.997 t) (đầy tải)
Độ dài: 356 ft 6 in (108,66 m) (chung)
Sườn ngang: 35 ft 8 in (10,87 m)
Mớn nước: 9 ft (2,7 m) (đầy tải)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons
2 × nồi hơi ống nước Admiralty
2 × trục
công suất 40.000 shp (30.000 kW)
Tốc độ: 36 hải lý một giờ (67 km/h; 41 mph)
Tầm xa: 5.500 nmi (10.190 km; 6.330 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
183
Vũ trang:

6 x pháo QF 4,7 inch (120 mm) Mk.XII trên bệ nòng đôi CP Mk.XIX (3x2);
4 x pháo phòng không QF 2 pounder Mk.VIII (40 mm) L/39 trên bệ bốn nòng Mk.VII (1x4);
8 × súng máy 0,5 inch (12,7 mm) Mk.III trên bệ Mk.III (2x4);
10 × ống phóng ngư lôi 21 inch (530 mm) Mk. IX (2x5);

45 × mìn sâu[2]

HMS Javelin (F61) là một tàu khu trục lớp J được Hải quân Hoàng gia Anh Quốc chế tạo vào cuối những năm 1930. Javelin đã phục vụ cho đến hết Chiến tranh Thế giới thứ hai,và bị bán để tháo dỡ vào ngày 11 tháng 6, 1949

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Javelin được đặt hàng vào ngày 25 tháng 5, 1937.[3] Nó được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng John Brown and Company Ltd. ở Clydebank, Scotland vào ngày 11 tháng 10, 1937, được hạ thủy vào ngày 21 tháng 12, 1938 và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia Anh vào ngày 10 tháng 6, 1939.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc Triệt thoái Dunkirk (Chiến dịch Dynamo) vào tháng 5, 1940, Javelin và các tàu khu trục khác đã cứu vớt những người sống sót từ chiếc SS Abukir bị đánh chìm.[4][5]

Vào cuối tháng 11, 1940, Chi hạm đội Khu trục 5, bao gồm Javelin, Jupiter, Jackal, JerseyKashmir, dưới quyền chỉ huy của Đại tá Hải quân Lord Louis Mountbatten, đã hoạt động ngoài khơi Plymouth. Chi hạm đội đã đối đầu với các tàu khu trục Đức Karl Galster, Hans LodyRichard Beitzen. Javelin đã bị hư hại nặng do trúng ngư lôi và hải pháo của tàu khu trục đối phương, bị mật cả phần mũi và phần đuôi tàu. Con tàu chỉ còn lại 155 foot (47 m) trong số 353 foot (108 m) nguyên thủy có thể nổi được, và nó được kéo về cảng. Javelin bị loại khỏi hoạt động trong gần một năm.

Sau khi được sửa chữa, Javelin tham gia Chiến dịch Ironclad để đổ bộ lên Madagascar vào tháng 5, 1942. Nó cũng tham gia Chiến dịch Vigorous không thành công nhằm mục đích chuyển một đoàn tàu tiếp liệu đến Malta đang bị phong tỏa vào tháng 6, 1942. Nó cùng với tàu khu trục HMS Kelvin đã tham gia tiêu diệt một đoàn tàu vận tải Ý trong đêm 19 tháng 1, 1943.

Thủy thủ đoàn của Javelin đã làm binh biến vào ngày 17 tháng 10, 1945 khi con tàu đang thả neo ngoài khơi Rhodes; nhiều người đã bị tòa án binh kết án phạt. Javelin bị bán để tháo dỡ vào ngày 11 tháng 6, 1949. Việc tháo dỡ được tiến hành tại Troon, Scotland.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Whitley 2000, tr. 117
  2. ^ Gardiner & Chesneau 1980, tr. 41
  3. ^ Whitley 2000, tr. 118
  4. ^ Mason, Geoffrey B (2004). “HMS Grenade (H 86) – G-class Destroyer”. Trong Smith, Gordon. Service Histories of Royal Navy Warships in World War 2. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2013. 
  5. ^ Mason, Geoffrey B (2004). “HMS Javelin (F 61) – J-class Destroyer”. Trong Smith, Gordon. Service Histories of Royal Navy Warships in World War 2. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2013. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]