HMS Maori (F24)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Maori (F24).jpg
Tàu khu trục HMS Maori (F24) trên đường đi
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Maori (F24)
Hãng đóng tàu: Fairfield Shipbuilding and Engineering Company, Govan
Đặt lườn: 6 tháng 6, 1936
Hạ thủy: 2 tháng 9, 1937
Đỡ đầu bởi: William J. Jordan
Nhập biên chế: 2 tháng 1, 1939
Số phận: Bị không kích đánh chìm tại Malta, 12 tháng 2, 1942
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Tribal
Trọng tải choán nước: 1.850 tấn Anh (1.880 t) (tiêu chuẩn)
2.520 tấn Anh (2.560 t) (đầy tải)
Độ dài: 377 ft (115 m) (chung)
Sườn ngang: 36,5 ft (11,1 m)
Mớn nước: 9 ft (2,7 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;
3 × nồi hơi ống nước Admiralty;
2 × trục;
công suất 44.000 shp (33.000 kW)
Tốc độ: 36 hải lý một giờ (67 km/h; 41 mph)
Tầm xa: 5.700 nmi (10.560 km; 6.560 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Tầm hoạt động: 524 tấn Anh (532 t) dầu
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
190
Vũ trang:

như thiết kế:

cải biến trong chiến tranh:

  • 6 x hải pháo 4.7 inch L/45 QF Mk. XII trên bệ CP Mk. XIX (3x2);
  • 2 x pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk. XVI trên bệ góc cao Mk. XIX (1x2);
  • 4 x pháo QF 2 pounder Mk. VII phòng không (1x4);
  • 4 x pháo phòng không Oerlikon 20 mm nòng đơn và nòng đôi;
  • 4 x ống phóng ngư lôi 21 inch Mk. IX (1x4);
  • 1 x đường ray và 2 x máy ném mìn sâu

HMS Maori (L24/F24/G24) là một tàu khu trục lớp Tribal được chế tạo cho Hải quân Hoàng gia Anh Quốc trước Chiến tranh Thế giới thứ hai. Tên nó được đặt theo tên người Māori, người bản địa của New Zealand. Nó đã phục vụ trong Thế Chiến II cho đến khi bị đánh chìm bởi một cuộc không kích tại Malta vào tháng 2, 1942.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Maori được đặt hàng cho xưởng tàu của hãng Fairfield Shipbuilding and Engineering Company, Limited tại Govan, Scotland trong Chương trình Chế tạo Hải quân 1935. Nó được đặt lườn vào ngày 6 tháng 6, 1936 và được hạ thủy vào ngày 2 tháng 9, 1937,[1] được đỡ đầu bởi bà W. J. Jordan, phu nhân của Cao ủy New Zealand William Jordan. Maori được cho nhập biên chế vào ngày 2 tháng 1, 1939.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Maori đã phục vụ cùng Hạm đội Địa Trung Hải. Nó từng tham gia vào cuộc săn đuổi và tiêu diệt thiết giáp hạm Đức Bismarck vào tháng 5, 1941,[2] rồi phục vụ cùng Chi hạm đội Khu trục 14 trong Trận mũi Bon vào tháng 12, 1941.[3] Dưới quyền chỉ huy của Trung tá Hải quân R. E. Courage, Maori bị máy bay Đức tấn công và bị đánh chìm tại nơi neo đậu trong cảng Grand, Malta vào ngày 12 tháng 2, 1942, với một thành viên thủy thủ đoàn tử trận. Xác tàu đắn của nó được trục vớt và đánh đắm ngoài khơi Malta vào ngày 15 tháng 7, 1945, ở tọa độ 35°54′17″B 14°31′8″Đ / 35,90472°B 14,51889°Đ / 35.90472; 14.51889Tọa độ: 35°54′17″B 14°31′8″Đ / 35,90472°B 14,51889°Đ / 35.90472; 14.51889.

Ở vị trí chỉ cách bờ biển Valletta vài trăm mét, xác tàu đắm của Maori là một địa điểm lặn giải trí thường xuyên. Phần mũi tàu nằm trên bãi cát trắng ở độ sâu 14 m (46 ft); phần đuôi tàu đã bị loại bỏ tại vùng biển sâu khi được kéo đi từ cảng Grand đến cảng Marsamxett. Phần lớn cấu trúc thượng tầng phía trước của con tàu vẫn còn nguyên vẹn, bao gồm hai bệ pháo phía trước. Xác tàu là nơi sinh sống của nhiều loài thủy cư.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The Times (London), Friday, 3 September 1937, p.6
  2. ^ The Times (London), Wednesday, 28 May 1941, p.4
  3. ^ The Times (London), Monday, 15 December 1941, p.3

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]