HMS Nubian (F36)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Nubian
Tàu khu trục HMS Nubian (F36) vào cuối Thế Chiến II
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Nubian (F36)
Hãng đóng tàu: John I. Thornycroft & Company, Woolston, Hampshire
Đặt lườn: 10 tháng 8, 1936
Hạ thủy: 21 tháng 12, 1937
Hoàn thành: 6 tháng 12, 1938
Nhập biên chế: tháng 10, 1938
Số phận: Bị tháo dỡ, 11 tháng 6, 1949
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Tribal
Trọng tải choán nước: 1.850 tấn Anh (1.880 t) (tiêu chuẩn)
2.520 tấn Anh (2.560 t) (đầy tải)
Độ dài: 377 ft (115 m) (chung)
Sườn ngang: 36,5 ft (11,1 m)
Mớn nước: 9 ft (2,7 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;
3 × nồi hơi ống nước Admiralty;
2 × trục;
công suất 44.000 shp (33.000 kW)
Tốc độ: 36 hải lý một giờ (67 km/h; 41 mph)
Tầm xa: 5.700 nmi (10.560 km; 6.560 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Tầm hoạt động: 524 tấn Anh (532 t) dầu
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
219
Vũ trang:

như thiết kế:

cải biến trong chiến tranh:

  • 6 x hải pháo 4.7 inch L/45 QF Mk. XII trên bệ CP Mk. XIX (3x2);
  • 2 x pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk. XVI trên bệ góc cao Mk. XIX (1x2);
  • 4 x pháo QF 2 pounder Mk. VII phòng không (1x4);
  • 4 x pháo phòng không Oerlikon 20 mm nòng đơn và nòng đôi;
  • 4 x ống phóng ngư lôi 21 inch Mk. IX (1x4);
  • 1 x đường ray và 2 x máy ném mìn sâu

HMS Nubian (L36/F36) là một tàu khu trục lớp Tribal được chế tạo cho Hải quân Hoàng gia Anh Quốc trước Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó đã phục vụ cho khi Thế Chiến II kết thúc, được tặng thưởng 13 danh hiệu Vinh dự Chiến trận, một thành tích ngang bằng hai tàu chiến khác của Hải quân Hoàng gia và chỉ xếp sau thiết giáp hạm Warspite. Nó bị bán để tháo dỡ vào năm 1949.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Nubian được đặt hàng cho xưởng tàu của hãng John I. Thornycroft & Company, ở Woolston, Hampshire trong Chương trình Chế tạo Hải quân 1935. Nó được đặt lườn vào ngày 10 tháng 8, 1936, được hạ thủy vào ngày 21 tháng 12, 1937, và nhập biên chế vào ngày 6 tháng 12, 1938.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Nubian có mặt tại vùng biển nhà vào giai đoạn đầu của Chiến tranh Thế giới thứ hai, và đã hoạt động cùng Hạm đội Nhà trong Chiến dịch Na Uy vào tháng 5, 1940. Sau đó, nó gia nhập Chi hạm đội Khu trục 14 tại Plymouth dưới quyền chỉ huy của Đại tá Hải quân P. J. Mack, vốn đang tạm thời đặt cờ hiệu của mình trên chiếc Janus trong khi soái hạm Jervis đang được sửa chữa. Cùng trong thành phần chi hạm đội 14 còn có Mohawk cùng thuộc lớp Tribal, và Juno thuộc lớp J. Hải đội khởi hành từ Plymouth để đi Alexandria vào ngày 18 tháng 5, 1940; cùng đi trên lộ trình còn có bốn tàu khu trục lớp K thuộc Chi hạm đội Khu trục 5, đang trên đường đi sang phục vụ tại biển Đỏ. Chúng đi đến Alexandria vào ngày 25 tháng 5, chỉ hai tuần trước khi bắt đầu xung đột với Ý vào ngày 11 tháng 6, 1940.

Nubian đã hoạt động tích cực tại khu vực Địa Trung Hải, tham gia trận Calabria vào tháng 7, 1940, Trận chiến mũi Matapan vào tháng 3, 1941, trận chiến vận tải Tarigo vào tháng 4, và cuối cùng là trận Crete vào tháng 5. Trong Trận chiến mũi Matapan, nó đã bắn phát ân huệ vào chiếc tàu tuần dương Ý Pola vốn bị hư hại nặng do trúng ngư lôi phóng từ máy bay. Trong trận Crete vào ngày 26 tháng 5, nó bị trúng bom làm thổi tung phần đuôi tàu, khiến 7 thành viên thủy thủ đoàn thiệt mạng và 12 người khác bị thương. Cho dù phải chịu đựng thêm các cuộc tấn công khác, nó vẫn có khả năng quay trở về Alexandria dưới sự hộ tống của các đồng đội. Tuy nhiên, nó phải được kéo đi vào ngày 12 tháng 6 để được sửa chữa triệt để tại Bombay, Ấn Độ. Việc sửa chữa các hư hại mất đến 18 tháng.

Nubian ngoài khơi Malta, 1943.

Nubian gia nhập trở lại Chi hạm đội Khu trục 14 tại Địa Trung Hải vào tháng 11, 1942, tham gia tấn công đoàn vận tải Lupo vào ngày 2 tháng 12, cùng với Jervis hoạt động ngoài khơi Tripoli trong các ngày 20-21 tháng 12. Sang năm 1943, nó tham gia hỗ trợ các cuộc đổ bộ lên Sicily và sau đó lên Salerno, trước khi quay trở về Anh để được bố trí hoạt động tại vùng biển Bắc Cực. Đang khi đảm nhiệm vai trò hộ tống vận tải tại khu vực này, nó tham gia ít nhất một cuộc tấn công trực tiếp tàu ngầm U-boat đối phương, một trò săn-tìm "mèo-và-chuột" kéo dài nhiều ngày. Nó cũng theo dõi ít nhất 11 tàu ngầm U-boat khác vốn từng tung ra hai đợt tấn công vào đoàn tàu vận tải mà nó bảo vệ. Trong giai đoạn này, nó từng được cho tách ra để hỗ trợ các chiến dịch tại Na Uy: một cuộc tấn công căn cứ tàu ngầm Đức ở vũng biển Trondheim và một cuộc tấn công thiết giáp hạm Đức Tirpitz tại vũng biển Alton.

Vào cuối năm 1944, Nubian được tái trang bị nhằm chuẩn bị cho việc phục vụ tại Viễn Đông trong năm 1945. Nó đã tham gia các chiến dịch tại Miến Điện trong nhiều vai trò khác nhau cho đến khi chiến tranh kết thúc. Nubian đã được tặng thưởng 13 danh hiệu Vinh dự Chiến trận,[1] một thành tích ngang bằng với hai tàu chiến khác cùng phục vụ với nó tại Địa Trung Hải là OrionJervis, và chỉ xếp sau chiếc thiết giáp hạm kỳ cựu Warspite thuộc lớp Queen Elizabeth, một cựu binh từ thời trận Jutland trong Thế Chiến I đồng thời đảm nhiệm vai trò soái hạm Hạm đội Địa Trung Hải trong phần lớn thời gian của Thế Chiến II.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Warlow 2004, tr. 155

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Brice, Martin H. (1971). The Tribals. London: Ian Allan. ISBN 0-7110-0245-2. 
  • Connell, G.G. (1987). Mediterranean Maelstrom: HMS Jervis and the 14th Flotilla. William Kimber Ltd. ISBN 9780718306434. 
  • English, John (2001). Afridi to Nizam: British Fleet Destroyers 1937–43. Gravesend, Kent: World Ship Society. ISBN 9780905617954. OCLC 49841510. 
  • Warlow, Ben (2004). Battle Honours of the Royal Navy: Being the officially authorised and complete listing of Battle Honours awarded to Her/His Majesty's Ships and Squadrons of the Fleet Air Arm including Honours awarded to Royal Fleet Auxiliary Ships and merchant vessels. Cornwall: Maritime Books. ISBN 1-904459-05-6. 
  • Weightman, A.E. (1957). Crests and Badges of H.M. Ships. Aldershot.