HMS Renown (1916)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Renown-9.jpg
HMS Renown hoạt động cùng với Valiant (phải) và Richelieu (trái) tại Ấn Độ Dương, ngày 12 tháng 5 năm 1944
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Đặt hàng: 30 tháng 12 năm 1914
Hãng đóng tàu: Fairfield Shipbuilding & Engineering, Govan, Scotland
Đặt lườn: 25 tháng 1 năm 1915
Hạ thủy: 4 tháng 3 năm 1916
Hoạt động: 20 tháng 9 năm 1916
Xóa đăng bạ: 1948
Biệt danh: "HMS Refit"
Số phận: Bị bán để tháo dỡ ngày 19 tháng 3 năm 1948
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu chiến-tuần dương Renown
Trọng tải choán nước: 32.000 tấn (tiêu chuẩn)
Độ dài: 242 m (794 ft 2 in)
Sườn ngang: 27,4 m (90 ft)
Mớn nước: 8,94 m (29 ft 8 in)
Động cơ đẩy: 4 × Turbine hơi nước Brown-Curtis
42 × nồi hơi Babcock & Wilcox
4 × trục
công suất 120.000 mã lực (89,5 MW)
Tốc độ: 56 km/h (30,25 knot) (hoạt động)
60,5 km/h (32,68 knot) (chạy thử)
Tầm xa: 5.900 km
(3.170 hải lý)
Thủy thủ đoàn: 1.181
Vũ trang: 6 × pháo BL 380 mm (15 inch) Mk I (3×2)
20 × pháo 114 mm (4,5 inch) góc cao (10×2)
24 × pháo phòng không QF 2 pounder pom-pom (3×8)
8 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm (8×1)
8 × ống phóng ngư lôi 533 mm (21 inch) Mk II
Bọc giáp: Đai giáp: 51-229 mm (2-9 inch).
Sàn tàu chính: 102 mm (4 inch) trên hầm đạm;
25-63 mm (1-2,5 inch) trên phòng nồi hơi;
76 mm (3 inch) trên phòng động cơ;
95-102 mm (3,75–4 inch) phía hông.
Sàn tàu dưới: 95-102 mm (3,75–4 inch) trên hầm đạn.
Cửa gió nồi hơi: 51 mm (2 inch) dọc
Máy bay mang theo: 4 × Blackburn Shark,
thay bằng Fairey Swordfish (1939)
Thiết bị bay: 1 × máy phóng hai đầu

HMS Renown là một tàu chiến-tuần dương của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc, là chiếc dẫn đầu trong lớp của nó vốn bao gồm cả chiếc Repulse. Nó đã phục vụ trong cả cuộc Chiến tranh Thế giới thứ nhất lẫn thứ hai, và là chiếc tàu chiến-tuần dương của Anh duy nhất còn sống sót sau khi Thế Chiến II kết thúc, trước khi bị tháo dỡ vào tháng 3 năm 1948.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Cả hai chiếc trong lớp Renown ban đầu được chế tạo như những thiết giáp hạm thuộc lớp Revenge cùng với một chiếc thứ ba sẽ được đặt tên là Resistance, nhưng việc đặt hàng bị tạm ngưng sau khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất nổ ra. Vài tháng sau, Thứ trưởng thứ nhất Hải quân Anh Đô đốc Jackie Fisher sử dụng ảnh hưởng cá nhân của ông để tái khởi động việc chế tạo RenownRepulse theo một thiết kế mới như những tàu chiến-tuần dương với trọng lượng rẽ nước 26.500 tấn.

Renown được đặt lườn bởi hãng Fairfield Shipbuilding & Engineering tại Govan, Scotland vào ngày 25 tháng 1 năm 1915, được hạ thủy vào ngày 4 tháng 3 năm 1916 và được đưa ra hoạt động vào ngày 20 tháng 9 cùng năm.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh Thế giới thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Được hoàn tất vào tháng 9 năm 1916, Renown được đưa ra quá trễ để có thể tham gia trận Jutland, nhưng đã phục vụ trong Hạm đội Grand tại Bắc Hải trong hai năm còn lại của Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Thứ trưởng thứ nhất Hải quân tương lai John H. D. Cunningham đã từng phục vụ trên Renown trong một thời gian như một hoa tiêu cao cấp.

Giữa hai cuộc thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

HMS Renown tại Fremantle, Western Australia, đưa Công tước Yorkphu nhân quay trở lại Anh Quốc vào năm 1927.

Vào năm 1920-1921, sau một đợt tái trang bị, Renown đã cùng Hoàng tử xứ Wales thực hiện chuyến đi đến Australia, New ZealandHoa Kỳ. Trong những năm 1923-1926, nó được tái cấu trúc rộng rãi hầu tăng cường sự bảo vệ chống lại đạn pháo và ngư lôi; rồi đến năm 1927 nó lại đưa Vua George VI, lúc đó còn là Công tước xứ York, cùng phu nhân đến Australia và New Zealand.

Sau thêm 10 năm phục vụ, Renown được tái cấu trúc, thay đổi hình dáng đáng kể khi được trang bị cầu tàu chỉ huy tương tự như Valiant, hiện đại hóa hệ thống phòng không, thiết bị phóng máy bay nâng cao, các hệ thống kiểm soát hỏa lực mới nhất kể cả hệ thống kiểm soát hỏa lực phòng không HACS MkIV và bộ điều khiển Admiralty Fire Control Table Mk VII cho dàn pháo chính, cũng như bổ sung thêm vỏ giáp. Công việc này được hoàn tất vào tháng 9 năm 1939, ngay khi Chiến tranh Thế giới thứ hai vừa nổ ra. Trong việc tái trang bị này, con tàu lại có biệt danh là "HMS Refit" (tái trang bị). Thực ra con tàu đã từng bị đặt tên là "HMS Refit" ngay từ năm 1916, do việc phải bổ sung vội vã vỏ giáp tăng cường để khắc phục những yếu kém trong phòng thủ của những tàu chiến-tuần dương, được bộc lộ qua những thiệt hại tại Jutland; tương tự như thế, con tàu chị em Repulse cũng từng bị đạt tên lóng là "HMS Repair" (sửa chữa).

Chiến tranh Thế giới thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

HMS Repulse như nó hiện hữu vào năm 1919
HMS Renown sau khi tái cấu trúc vào năm 1939

Tốc độ cao của Renown khiến cho nó trở thành một tàu chiến có giá trị trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Vào cuối năm 1939, nó được gửi đến khu vực Nam Đại Tây Dương để truy tìm chiếc thiết giáp hạm bỏ túi Đức Admiral Graf Spee. Sau đó nó nằm trong thành phần bảo vệ cho các họạt động rải mìn (Chiến dịch Wilfred) dọc theo bờ biển Na Uy vào đầu tháng 4 năm 1940; và vào ngày 9 tháng 4, khi thời tiết rất xấu, đã có cuộc đụng độ ngắn ngủi với các tàu chiến-tuần dương Đức ScharnhorstGneisenau, gây hư hại cho chiếc sau với ba phát bắn trúng đích nhưng bản thân nó cũng bị bắn trúng hai lần. Từ cuối năm 1940 cho đến 1941, Renown hoạt động cùng Lực lượng "H" đặt căn cứ tại Gibraltar, nhằm cung cấp sự hiện diện chiến lược tại cả Đại Tây Dương lẫn Địa Trung Hải. Trong giai đoạn này, nó đã pham gia bắn pháo xuống Genoa, Italy, vào tháng 2 năm 1941. Trong tháng 5, nó tham gia việc truy đuổi thiết giáp hạm Đức Bismarck, tuy nhiên nó nhận được mệnh lệnh đặc biệt không được đối đầu sau việc chiếc Hood bị đánh chìm trong trận chiến eo biển Đan Mạch.

Sau khi phục vụ cùng Hạm đội Nhà trong những năm 1942-1943, Renown được gửi đến gia nhập Hạm đội Viễn Đông tại Ấn Độ Dương. Trong giai đoạn này nó đã từng đưa Thủ tướng Winston Churchill đi Hoa Kỳ tham dự buổi họp chuẩn bị cho Hội nghị Tehran,[1] và được cư dân Leicester trao tặng một bộ chuông tay để sử dụng trong các nghi lễ tôn giáo, địa phương mà con tàu kết nghĩa trong Tuần lễ Tàu chiến năm 1942 (được ghi nhớ bởi một lá thư của thuyền trưởng, hiện đang được trưng bày tại Nhà thờ Leicester). Hoạt động từ căn cứ ở Ceylon trong những năm 1944- 1945, nó đã giúp vào việc kiềm chế lực lượng Nhật Bản tại Đông Ấn vào giai đoạn kết thúc Thế Chiến II.

Renown là một trong bốn tàu chiến-tuần dương khắp thế giới còn sống sót sau Chiến tranh Thế giới thứ hai — những chiếc kia bao gồm hai "tàu tuần dương lớn" lớp Alaska của Hải quân Hoa Kỳ được chế tạo trong chiến tranh và chiếc TCG Yavuz của Thổ Nhĩ Kỳ nguyên là chiếc SMS Goeben do Đức chế tạo năm 1911. Renown còn phục vụ một thời gian ngắn sau chiến tranh tại vùng biển nhà Anh Quốc như một tàu huấn luyện đốt lò cho Cơ sở Huấn luyện HMS Imperieuse, trước khi bị bán để tháo dỡ vào tháng 3 năm 1948. Nó là chiếc tàu chiến-tuần dương cuối cùng của Đô đốc Jackie Fisher bị tháo dỡ, chỉ tồn tại lâu hơn chiếc Furious vài ngày.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới HMS Renown (1916) tại Wikimedia Commons

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Báo cáo của thuyền trưởng con tàu về chuyến đi này có trong lưu trữ tại Library and Archives of Canada, tài liệu của Admiral Murray, Bộ sưu tập MG30 E207

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]