Hagikaze (tàu khu trục Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hagikaze
Tàu khu trục Hagikaze, 31 tháng 3 năm 1941.
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Tên gọi: Hagikaze
Đặt lườn: 23 tháng 5 năm 1939
Hạ thủy: 18 tháng 6 năm 1940
Nhập biên chế: 31 tháng 3 năm 1941
Xóa đăng bạ: 15 tháng 10 năm 1943
Số phận: Bị đánh chìm giữa Kolombangara và Vella Lavella trong Trận chiến vịnh Vella, 7 tháng 8 năm 1943
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Kagerō
Trọng tải choán nước: 2.000 tấn Anh (2.032 t) (tiêu chuẩn)
2.500 tấn Anh (2.540 t) (đầy tải)
Độ dài: 116,20 m (381 ft 3 in) (mực nước)
118,50 m (388 ft 9 in) (chung)
Sườn ngang: 10,80 m (35 ft 5 in)
Mớn nước: 3,76 m (12 ft 4 in)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước Kanpon
3 × nồi hơi ống nước Kampon
2 × trục
công suất 52.000 mã lực (38,8 MW)
Tốc độ: 35,5 hải lý một giờ (40,9 mph; 65,7 km/h)
Tầm xa: 5.000 nmi (9.300 km) ở tốc độ 18 kn (21 mph; 33 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
239
Vũ trang: 6 × hải pháo Kiểu 3 127 mm/50 caliber (3×2)
28 × pháo 25 mm Kiểu 96 phòng không
4 × pháo phòng không 13 mm Kiểu 95
8 × ống phóng ngư lôi Kiểu 92 (2×4)
16 × ngư lôi 610 mm Kiểu 93
36 × mìn sâu Kiểu 95

Hagikaze (tiếng Nhật: 萩風) là một tàu khu trục hạng nhất của Hải quân Đế quốc Nhật Bản thuộc lớp Kagerō đã phục vụ tại Mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Vào ngày 7 tháng 8 năm 1943, Hagikaze bị đánh chìm giữa Kolombangara và Vella Lavella trong khi diễn ra Trận chiến vịnh Vella, ở tọa độ 07°50′N 156°55′Đ / 7,833°N 156,917°Đ / -7.833; 156.917.

Hagikaze được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 15 tháng 10 năm 1943.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 07°50′N 156°55′Đ / 7,833°N 156,917°Đ / -7.833; 156.917