Hanyu Yuzuru

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Yuzuru Hanyu
2012-12 Final Grand Prix 3d 559 Yuzuru Hanyu.JPG
Thông tin cá nhân
Đại diên cho quốc gia: Nhật Bản
Quê nhà: Sendai
Nơi cư trú: Sendai
Cao: 1,71 m (5 ft 7 in)
Huấn luyện viên: Brian Orser, Tracy Wilson
Huấn luyện viên trước đây: Abe Nanami, Tuzuki Shoitirou
Biên đạo múa: David Wilson, Jeffrey Buttle, Kurt Browning
Biên đạo múa trước đây: Abe Nanami
Câu lạc bộ trượt băng nghệ thuật: ANA Minato Tokyo
Toronto Cricket Curling and Skating Club
Điểm cá nhân tốt nhất do ISU chấm
Điểm tổng: 293.25
Chung kết Grand Prix 2013
Short program: 101.45 (WR)
Olympic mùa đông 2014
Free skate: 193.41
Chung kết Grand Prix 2013
 
Medal record
Đối thủ cạnh tranh cho  Nhật Bản


Trượt băng nghệ thuật hạng mục dành cho nam
Thế vận hội
Vàng 2014 Sochi Singles
World Championships
Đồng 2012 Nice Singles
Four Continents Championships
Bạc 2013 Osaka Singles
Bạc 2011 Taipei Singles
Grand Prix Final
Vàng 2013–2014 Fukuoka Singles
Bạc 2012–2013 Sochi Singles
World Junior Championships
Vàng 2010 The Hague Singles
Junior Grand Prix Final
Vàng 2009–2010 Tokyo Singles
Tên tiếng Nhật
Kanji 羽生 結弦
Hiragana はにゅう ゆづる
Katakana ハニュウ ユヅル
Rōmaji Hanyuu Yuzuru

Hanyū Yuzuru (羽生 結弦 Hanyū Yuzuru?, sinh ngày 7 tháng 12, 1994) là một vận động viên trượt băng nghệ thuật người Nhật Bản, tham gia thi đấu ở hạng mục đơn nam. Anh là nhà vô địch Olympic 2014, vô địch thế giới 2014, vô địch chung kết Grand Prix 2013-2014, vô địch World Junior 2010, đồng thời vô địch quốc gia Nhật Bản 2013 & 2014.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu biểu diễn động tác Biellmann spin tại giải Cup of China 2011.

Khởi nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu bắt đầu trượt khi 4 tuổi, đi theo người chị của anh đến sân băng.[1][2] Anh tham gia thi đấu lần đầu tiên ở giải quốc gia trong vai trò là người mới vào nghề trong mùa giải 2004–05; anh biểu diễn tại Giải Novice Championships Nhật Bản 2004 ở hạng mục Novice B, là hạng mục thấp hơn trong hai cấp độ mới vào nghề và giành huy chương vàng trong cuộc thi.[3] Sau đó sân băng anh tập đóng cửa do vấn đề tài chính, làm giảm đi thời gian tập luyện của anh.[2] Abe Nanami trở thành huấn luyện viên của anh vào thời điểm đó.[2] Trong mùa giải 2006–07, Hanyu thi đấu tại Giải Novice Championships Nhật Bản 2006 ở hạng mục Novice A và đạt huy chương đồng.[4] Điều này giúp anh nhận được lời mời tham dự Giải trượt băng nghệ thuật Junior Championship Nhật Bản 2006–2007 và giành đựoc vị trí thứ 7 trong giải đấu này.[5]

Sân băng Hanyu tập luyện tái mở cửa vào 2007.[2] Anh thi đấu ở giải Novice Championships Nhật Bản 2007 ở hạng mục Novice A và giành chiến thắng.[6] Anh được mời tham dự Giải Junior Championships Nhật Bản 2007, sau đó giành được huy chương đồng.[7]

Sự nghiệp bán chuyên[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2008–2009[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu bước lên cấp độ bán chuyên và ra mặt tại giải ISU Junior Grand Prix. Anh đạt vị trí thứ 6 trong phần biểu diễn ngắn và thứ 4 trong phần biểu diễn tự do, cuối cùng được xếp hạng 5 chung cuộc tại cuộc thi tại Merano, Italy.[8] Sau thành công tại giải Junior Grand Prix, tại Giải Junior Championships Nhật Bản 2008, Hanyu đứng thứ 4 ở phần biểu diễn ngắn với 57.25 điểm và hạng nhất trong phần biểu diễn tự do với 124.92 điểm, tổng cộng 182.17 điểm để anh giành huy chương vàng chung cuộc của cuộc thi.[9] Cuộc thi này đóng vai trò vừa là giải Junior national championships và kì sát hạch cho giải World Junior Championships, và Hanyu đạt đủ tiêu chuẩn để tham dự giải 2009 Junior Worlds.

Chiếc huy chương vàng này giúp anh giành đựoc vé mời tham gia thi đấu ở cấp độ chuyên nghiệp tại Giải vô địch Nhật Bản 2008, trong cuôc thi anh được xếp hạng thứ 8.[10] Tháng 2 năm 2009, tại Giải Junior Championships thế giới 2009, Hanyu được xếp thứ 11 trong phần biểu diễn ngắn với 58.18 điểm và thứ 13 trong phần biểu diễn tự do với 103.59 điểm, tổng cộng là 161.77 điểm, đưa anh xếp thứ hạng 12 chung cuộc.

Mùa giải 2009–2010[sửa | sửa mã nguồn]

Trong mùa giải 2009–2010, Hanyu đã chiến thắng tại Junior Grand Prix và trở thành hạt giống sáng giá nhất cho Junior Grand Final. Tại giải Japanese Junior Championships, anh đã chiến thắng hạng mục bài thi ngắn và giữ vị trí thứ 2 trong hạng mục biểu diễn tự do để giành được chiến thắng chung cuộc.[11] Thành công này đã đem tới cho Hanyu chiếc vé tham dự giải Japanese Championships ở trình độ chuyên nghiệp. Sau đó, anh đã tham gia tranh giải tại sự kiện 2009–2010 ISU Junior Grand Prix Final, tại đây, anh đã giành chiến thắng và lập nên kỉ luc cá nhân mới của mình.[12] Tại giải trượt băng nghệ thuật 2009–2010 Japan Junior Figure Skating Championships, anh đã được giành vị trí thứ nhất. Anh cũng đồng thời tham gia tranh giải tại trình độ chuyên nghiệp và giành vị trí thứ 6. Nhờ vào bảng thành tích của mình, Hanyu đã được chọn thi đấu giải 2010 World Junior Championships. Anh đã chiến thắng chung cuộc sau khi xếp vị trí thứ 3 trong hạng mục bài biểu diễn ngắn và vị trí thứ nhất ở hạng mục bài biểu diễn tự do và lập nên kỉ lục cá nhân với tổng điểm là 216.10, trở thành vận động viên nam Nhật Bản thứ 4 chiến thắng World Junior Championships[13]

Sự nghiệp chuyên nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2010–2011[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu đã tuyên bố rằng anh có thể chuyển lên trình độ chuyên nghiệp vào mùa giải 2010-2011. Mục tiêu của Hanyu trong hệ thống giải 2010–2011 ISU Grand Prix là chinh phục cúp 2010 NHK Trophy và cúp 2010 Cup of Russia.[14] Trong lần ra mắt ở cấp độ chuyên nghiệp ở giải the 2010 NHK Trophy, Hanyu đứng vị trí thứ 5 ở bài biểu diễn ngắn với 69.31 điểm; trong bài biểu diễn tự do của mình, Hanyu đã trình diễn cú quadruple toe loop jump đầu tiên của mình trong ISU competition và giữ vị trí thứ 4 với 138.41 điểm, đem cho anh tổng điểm 207.72 đạt được vị trí thứ 4 chung cuộc. Hanyu đã kết thúc với vị trí thứ 7 trong giải Cup of Russia. Trong giải 2010–11 Japanese Championships, Hanyu ở vị trí thứ 2 sau phần thi biểu diễn ngắn, nhưng bị ngã ở trong phần thi trượt tự do và kết thúc với vị trí thứ 4 chung cuộc. Nhờ thành tích này, anh đã được lựa chọn để thi đấu ở giải 2011 Four Continents,tại đây anh giành được huy chương bạc và đạt được kỉ lục cá nhân mới.

Khi Hanyu đang trượt trên một sân trượt băng tại nhà ở Sendai thì trận động đất cùng sóng thần 2011 Tōhoku earthquake and tsunami đánh vào thị trấn và các khu vực xung quanh. Các bơm nước dưới băng ở trên sân bị bung ra vì tác độ của động đất và sóng thần tháng 11, năm 2011[15]. Hanyu phải chuyển sang tập luyên ở YokohamaHachinohe, Aomori cho tới khi sân băng cũ được mở lại vào tháng 7 24, 2011.[1][15][16] Anh cũng đồng thời đã biểu diễn ở 60 chương trình trượt băng, coi đây như như là một cơ hội để luyện tập.[2] Vào tháng 4, anh và các vận động viên trượt băng khác tham gia vào một chương trình trượt băng để gây quỹ cho những nạn nhân của động đất vào sóng thàn 2011.[1][16]

Mùa giải 2011–2012[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu cùng cựu huấn luyện viên Abe Nanami tại giải Cup of Russia 2011.

Hanyu bắt đầu mùa giải 2011–12 season với chiến thắng tại cúp Nebelhorn Trophy.Anh xếp vị trí thứ nhất ở cả hai hạng mục trượt băng đơn và trượt tự do với tổng điểm 226.26. Trong hệ thống giải 2011–12 Grand Prix series, anh tham gia thi đấu giải 2011 Cup of China và giải 2011 Rostelecom Cup.[17] Anh kết thúc với vị trí thứ 4 tại Cup of China, sau đó chiến thắng ở giải Rostelecom Cup với một kỉ lục cá nhân mới[18], nhờ đó, đủ điều kiện tham gia giải Grand Prix Final cấp độ senior lần đầu tiên, nơi mà anh đã giữ vị trí thứ 4. Sau đó, Hanyu chiến thắng huy chương đồng tại 2011–2012 Japan Championships, giành được vị trí trong đội tuyển Nhật Bản đi thi đấu tại giải 2012 World Championships. Trong bài biểu diễn ra mắt ở cấp độ chuyên nghiệp thế giới, Hanyu ở vị trí thứ 7 trong phần biểu diễn ngắn nhưng lại giữ vị trí thứ 2 trong bài biểu diễn tự do. Anh đã giành được huy chương đồng chung cuộc với tổng điểm 251.06, đứng sau huy chương vàng Patrick Chan của Canada và huy chương bạc, người đồng đội của Hanyu, Daisuke Takahashi của Nhật Bản.

Vào tháng 4 2012, Hanyu chuyển sang huấn luyện viên Brian OrserToronto, Canada.[19][20] Như những điều đã được thông báo, Hanyu sẽ phải thường xuyên tới Toronto và vẫn tiếp tục học trung học ở Sendai.[19] Sau khi chuyển tới Canada, Hanyu tăng thời gian luyện tập trên sân băng lên 3–4 tiếng/ngày so vơi1–2 tiếng/ngày trước đó, sự thay đổi này được thực hiện bởi các nguyên nhân phức hợp từ hạn chế trong thời gian luyện tập ở Sendai, thời gian đi tới trường và căn bệnh hen suyễn.[1][2] Cuốn hồi kí của Hanyu, Blue Flames, được xuất bản ở Nhật bản vào tháng 4, 2012 với tiền bản quyền tác giả và một phần lợi nhuận được đưa tới sân băng Sendai.[2]

Mùa giải 2012–2013[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu bắt đầu mùa thi đầu ở giải Finlandia Trophy, giành huy chương vàng. Anh đã thực hiện 2 lần quadruple jumps, một lần quad toe và một lần quad salchow, ở trong màn thi trượt tự do, đây là lần đầu tiên Hanyu thực hiện quad salchow trong khi thi đấu.[20][21] Hanyu giành được huy chương bạc ở giải Grand Prix đầu tiên anh tham gia trong toàn mùa giải Skate America. Trong giải đấu thứ 2, giải NHK Trophy, anh ghi được 95.32 điểm trong hạng mục biểu diễn đơn, lập nên kỉ lục thế giới mới,[22] và tiếp tục giành được huy chương vàng tại quê hương của mình.[23][24] Hanyu đã đủ tiêu chuẩn cho giải Grand Prix FinalSochi, và anh giữ vị trí thứ 2 trong giải này.

Vào tháng 1,2013, Hanyu giành được danh hiệu quốc gia đầu tiên tại 2013 Japan Championships sau khi đứng thứ nhất ở hạng mục bài biểu diễn ngắn và thứ 2 ở hạng mục bài biểu diễn dài. Anh đặt được huy chương bạc tại 2013 Four Continents, giữ vị trí thứ nhất ở bài biểu diễn ngắn và thứ 3 ở bài thi tự do. Ở giải 2013 World Championships, anh đứng thứ 9 ở bài biểu diễn ngắn và thứ 3 ở bài thi tự do và thứ 4 chung cuộc

Mùa giải 2013–2014[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu bắt đầu mùa giải với cúp 2013 Finlandia Trophy nơi mà anh đã giành được huy chương vàng sau khi đứng thứ nhất ở cả hai hạng mục bài biểu diễn ngắn và bài biểu diễn tự do[25] Anh cũng giành được huy chương bạc ở các giải 2013–14 Grand Prix, Giải 2013 Skate Canada International2013 Trophée Eric Bompard, giúp anh đủ điều kiện tham gia 2013–14 Grand Prix of Figure Skating Final.Tại giải Grand Prix FinalFukuoka, Hanyu lập kỉ lục thế giới mới trong bài biểu diễn ngắn với 99.84 điểm và giành được huy chương vàng chung cuộc sau khi giành được huy chương vàng ở cả hai hạng mục tham gia.

Tháng 11, 2013, Hanyu tiếp tục giành được danh hiệu quốc gia thứ 2 sau khi đứng nhất ở các cuộc thi đã tham dự trong mùa giải. Anh tiếp tục được gọi vào đội tuyển quuốc gia Nhật Bản tham gia Olympics và World Championships.

Vào 2014 Winter Olympics tại Sochi, Hanyu đã phá vỡ kỉ lục thế giới do chính mình lập gia ở bài biểu diễn ngắn của nam, ghi được 101.45 điểm. Anh là vận động viên trượt băng nghệ thuật duy nhất đạt trên 100 điểm trong SP. Hanyu đạt 178.64 điểm trong bài biểu diễn tự do và chiến thắng huy chương vàng Olympic đầu tiên trong hạng mục trượt băng nghệ thuật nam và người thứ 2 là Shizuka Arakawa trong tất cả các vận động viên đại diện cho Nhật Bản

Kĩ thuật trượt băng[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu đã trình diễn chuỗi 3A-3A, 4T-3A,[26] 4S-3A và thậm chí 4T-3A-3A trong các màn trình diễn. Anh cũng từng thực hiện 3A-3T-2T (Giải quốc gia Nhật Bản 2011–2012). Anh nhảy ngược chiều kim đồng hồ như hầu hết các vận động viên khác. Các cú xoay vòng kết hợp của anh thường bao gồm xoay biellmann và xoay doughnut, cả hai đều là những kiểu xoay khó, đặc biệt đối với các vận động viên nam vì yêu cầu tính mềm dẻo cao.

Đời sống riêng tư[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu sinh ra và lớn lên tại Sendai, anh có một người chị tên là Saya. Cha mẹ anh đã đặt tên Hanyu theo cung hoàng đạo của anh (Nhân Mã - cung thủ). Tên của anh (Yuzuru - 結弦) mang ý nghĩa một dây cung được kéo căng, tượng trưng cho sự tự tin, sức mạnh và lòng ngay thẳng. Cha mẹ anh muốn anh có một cuộc sống giản đơn, nhưng đường hoàng, mạnh mẽ và thanh nhã.

Anh bị bệnh suyễn.[1] Anh đã theo học trường trung học Tohoku, nơi sản sinh ra nhiều nghệ sĩ trượt băng nghệ thuật Nhật Bản nổi tiếng như Honda TakeshiArakawa Shizuka.[1] Căn nhà anh bị hư hỏng sau trận động đất và sóng thần Tōhoku 2011 nhưng vẫn ở tình trạng có thể ở được.[1] Hiện tại anh là sinh viên tại Đại học Waseda.

Hanyu và những đồng nghiệp cùng đoạt huy chương tại Giải vô địch thế giới 2012.

Điểm nhấn cạnh tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu và những đồng nghiệp cùng đoạt huy chương tại Giải vô địch bốn lục địa 2011
Hanyu tại lễ khai mạc huy chương vàng Junior Worlds 2010

2008–đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Kết quả[27]
Quốc tế
Sự kiện 2008–09 2009–10 2010–11 2011–12 2012–13 2013–14
Thế Vận Hội thứ 1
Thế giới thứ 3 thứ 4 thứ 1
Bốn lục địa thứ 2 thứ 2
Chung kết Grand Prix thứ 4 thứ 2 thứ 1
GP Bompard thứ 2
GP Cup of China thứ 4
GP NHK Trophy thứ 4 thứ 1
GP Rostelecom thứ 7 thứ 1
GP Skate America thứ 2
GP Skate Canada thứ 2
Finlandia thứ 1 thứ 1
Nebelhorn thứ 1
International: Junior
Junior Worlds thứ 12 thứ 1
JGP Final thứ 1
JGP Croatia thứ 1
JGP Italy thứ 5
JGP Poland thứ 1
Quốc gia
Japan Champ. thứ 8 thứ 6 thứ 4 thứ 3 thứ 1 thứ 1
Japan Junior thứ 1 thứ 1
Giải đồng đội
Olympics thứ 5
GP = Grand Prix; JGP = Junior Grand Prix; TBD = Assigned
T = Kết quả đồng đội; P = Kết quả cá nhân; Huy chương chỉ dành cho kết quả đồng đội.

2004–2008[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc tế
Sự kiện 2004–05 2005–06 2006–07 2007–08
Skate Copenhagen thứ 1 N.
Quốc gia
Japan Junior Champ. thứ 7 thứ 3
Japan Novice Champ. thứ 1 B. thứ 2 B. thứ 3 A. thứ 1 A.
Levels: N. = Novice; A. = Novice A; B. = Novice B

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ Flade, Tatjana (21 tháng 4 năm 2011). “Shooting for the top”. GoldenSkate. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2011. 
  2. ^ a ă â b c d đ Zeitlin, Anna; Ichikawa, Yuka; Golinsky, Reut (7 tháng 12 năm 2012). “Yuzuru Hanyu – past, present and future”. Absolute Skating. 
  3. ^ 2004 Japan Novice Championships (Novice B)
  4. ^ 2006 Japan Novice Championships (Novice A)
  5. ^ 2006 Japan Junior Championships
  6. ^ 2007 Japan Novice Championships (Novice A)
  7. ^ 2007 Japan Junior Figure Skating Championships
  8. ^ 2008–2009 Junior Grand Prix Merano
  9. ^ 2008 Japan Junior Figure Skating Championships
  10. ^ 2008 Japan Figure Skating Championships
  11. ^ Japan Junior Figure Skating Championships 2009
  12. ^ Hanyu edges Song for junior title accessed December 5, 2009
  13. ^ Hanyu nabs Junior World title
  14. ^ “Entries Men- All 6 Events”. International Skating Union. 
  15. ^ a ă Kany, Klaus-Reinhold (8 tháng 11 năm 2011). “Yuzuru Hanyu Rises From the Ashes”. IFS Magazine. 
  16. ^ a ă “フィギュア・羽生 被災地へ届け、16歳の「勇気の舞」” [A Dance of Courage for the affected areas from 16-year-old Hanyu]. Nihon Keizai Shimbun (bằng Japanese). 16 tháng 4 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2013. 
  17. ^ ISU 2011-2 Grand Prix Assignments – men
  18. ^ Rutherford, Lynn (26 tháng 11 năm 2011). “Hanyu sneaks past Fernandez by a whisker”. IceNetwork. 
  19. ^ a ă “World bronze medalist Hanyu switches to Orser”. Ice Network. 25 tháng 4 năm 2012. 
  20. ^ a ă Rutherford, Lynn (19 tháng 10 năm 2012). “Orser amazed by pupil Hanyu's skill, politeness”. IceNetwork. 
  21. ^ Flade, Tatjana (8 tháng 10 năm 2012). “2012 Finlandia Trophy”. GoldenSkate. 
  22. ^ Sato, Shigemi (24 tháng 11 năm 2012). “Hanyu sets skating world record at home GP”. Google News. Agence France-Presse. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2013. 
  23. ^ Sato, Shigemi (26 tháng 11 năm 2012). “Hanyu seeks Olympic glory after disaster”. Google News. Agence France-Presse. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2013. 
  24. ^ Sato, Shigemi (27 tháng 11 năm 2012). “Japan win raises roof in tsunami morgue”. Google News. Agence France-Presse. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2013. 
  25. ^ http://www.ess.fi/?article=431143
  26. ^ Ainsworth, Alexa (14 tháng 9 năm 2011). “Sell it Hanyu, sell it!”. Universal Sports. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2011. 
  27. ^ “Competition Results: Yuzuru HANYU”. International Skating Union. 

Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “bio0910” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “bio0809” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “bio1112” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “bio1011” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “bio1314” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.

Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “bio1213” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Yuzuru Hanyu tại Wikimedia Commons