Harold Urey

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Harold Clayton Urey
Sinh 29 tháng 4 năm 1893
Walkerton, Indiana, Hoa Kỳ
Mất 5 tháng 1, 1981 (87 tuổi)
La Jolla, California, Hoa Kỳ
Quốc tịch  Hoa Kỳ
Ngành Hóa lý
Nơi công tác
Alma mater
Người hướng dẫn luận án tiến sĩ Gilbert N. Lewis
Các sinh viên nổi tiếng
Nổi tiếng vì Thí nghiệm Urey-Miller
Giải thưởng

Harold Clayton Urey (1893-1981) là nhà hóa học người Mỹ. Ông đoạt giải Nobel Hóa học năm 1934. Đồng thời ông cũng được trao Huy chương vàng của Hội Thiên văn học Hoàng gia Anh, tức là trở thành ủy viên của Hội Hoàng gia Anh.

Quá trình đi tìm nguồn gốc sự sồng[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1952, Urey, qua quá trình đối chiếu kết quả phân tích thành phần các thiên thạch với kết quả nghiên cứu các hợp chất hóa học nguyên thủy trên Trái Đất, đã đê ra một học thuyết về nguồn gốc và sự phát triển sự sống trên Trái Đất.

Trước tiên, Urey đã khảo sát quá trình hóa học xảy ra trong hệ Mặt trời. Ông đã nhận thấy rằng sau khi hình thành hệ Mặt trời, các hành tinh gần Mặt Trời bị bức xạ Mặt Trời đốt nóng, các nguyên tố nhẹ trong hành tinh sẽ bay đi mất dần. Hành tinh càng ngày càng đậm đặc, nhiệt độ tăng lên. Ở mặt ngoài hành tinh methane,amoniac, nước, hidro,... xuất hiện và hình thành khí quyểntính khử. Sau khi trên mặt đất xuất hiện sự sống, do quá trình quang hợp của cây, oxinitơ xuất hiện và tạo nên khí quyể. Urey liên hệ việc xuất hiện bầu khí quyển và sự phát sinh sự sống, từ đó đề xuất rằng "bầu khí quyển có tính khử là điều kiện xuất hiện sự sống"

Để chứng minh cho cách suy nghĩ này, Urey cùng Stanley Miller, một học trò của ông, mô phỏng điều kiện mặt đất nguyên thủy trong phòng thí nghiệm. Urey đem amoniac, methane, hidro cho vào một bình ảdung tích 5 lít và một bình nhỏ dung tích 0,5 lít đựng nước và nối với bình lớn. Sau đó, ông đun bình nhỏ để nước ở đó sôi để hơi nước sôi bay vào bình lớn. Tiếp theo, ông cho phóng điện liên tục ở các điện cực của bình lớn. Khi đó, amoniac, methane, hidro, hơi nước tác dụng với nhau. Thí nghiệm này kéo dài tới 1 tuần. Sau đó là đem các chất trong bình lớn tiến hành phân tích. Kết quả là trong bình này, các hợp chất kim loại amit gồm có glyxin, axit aminopropionic với hàm lượng lớn nhất đã xuất hiện. Cần nhớ rằng, các amino axit là thành phần chủ yếu cấu tạo nên protein, một trong những chất đóng vai trò chủ đạo trong sự xuất hiện và phát triển của sự sống[2].

Một số công trình nghiên cứu khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đơteri, một trong các đồng vị của hiđrô, được Harold C. Urey phát hiện bằng cách chưng cất một mẫu nước nhiều lần. Nhờ đó, ông giành giải Nobel Hóa học năm 1934.
  • Sau sự phát hiện này, Urey còn phát hiện ra cách tạo ra nước nặng vì có thể cô đặc đơteri[3].

Giải thưởng Harold Urey[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là giải thưởng được trao cho các nhà thiên văn học trẻ tuổi bởi Phân ban Khoa học hành tinh của Hội Thiên văn Hoa Kỳ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ doi:10.1098/rsbm.1983.0022
    Hoàn thành chú thích này
  2. ^ Truyện tranh Trạng Quỳnh, kỳ 24, phần Thế giới quanh ta, họa sĩ Kim Khánh, xuất băn năm 2004
  3. ^ H. C. Urey, Ferdinand G. Brickwedde, G. M. Murphy (1932). “A Hydrogen Isotope of Mass 2”. Physical Review 39: 164–165. doi:10.1103/PhysRev.39.164. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]