Haruna (thiết giáp hạm Nhật)
Thiết giáp hạm Haruna vào năm 1934, sau khi được tái cấu trúc đợt hai |
|
| Phục vụ (Nhật Bản) | |
|---|---|
| Đặt tên theo: | núi Haruna |
| Đặt hàng: | 1911 |
| Hãng đóng tàu: | Kawasaki tại Kôbe |
| Đặt lườn: | 16 tháng 3 năm 1912 |
| Hạ thủy: | 14 tháng 12 năm 1913 |
| Hoạt động: | 19 tháng 4 năm 1915 |
| Số phận: | Bị đánh chìm tại nơi thả neo ngày 28 tháng 7 năm 1945[1] |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp và kiểu: | Lớp tàu chiến-tuần dương Kongō |
| Trọng tải choán nước: | 36.600 tấn |
| Độ dài: | 222 m (728 ft 4 in)[1] |
| Sườn ngang: | 31 m (101 ft 7 in)[1] |
| Mớn nước: | 9,7 m (31 ft 10 in) |
| Động cơ đẩy: | 4 × Turbine Brown-Curtis 4 × trục công suất 64.000 mã lực (48 MW)[2] |
| Tốc độ: | 1915-1934: 48 km/h (26 knot)[1] 1934-1945: 55,5 km/h (30 knot)[1] |
| Tầm xa: | 18.520 km ở tốc độ 26 km/h (10.000 hải lý ở tốc độ 14 knot) |
| Thủy thủ đoàn: | 1.360[1] |
| Vũ trang: | 8 × pháo 356 mm (14 inch) (4×2)[3] 16 × 152 mm (6 inch) (16×1)[3] 8 × pháo 127 mm (5 inch) đa dụng (4×2) [3] cho đến 118 × súng phòng không 25 mm[3] |
| Bọc giáp: | tháp súng 230 mm (9 inch)[3] đai giáp 20 mm (8 inch)[3] sàn tàu 38-70 mm (1,5-2,75 inch)[3] |
| Máy bay mang theo: | 3[3] |
Haruna (tiếng Nhật: 榛名), tên được đặt theo đỉnh núi Haruna, là một thiết giáp hạm của Hải quân Đế quốc Nhật Bản hoạt động trong cả Thế Chiến I và Thế Chiến II. Nó là chiếc thứ tư và là chiếc cuối cùng của lớp Kongō.
Được thiết kế bởi kỹ sư hàng hải người Anh George Thurston như một tàu chiến-tuần dương, nó được cải tạo hai lần trong suốt quá trình phục vụ: lần thứ nhất thành một thiết giáp hạm vào năm 1926, và lần thứ hai thành một thiết giáp hạm nhanh vào năm 1933. Trong thành phần của Đội Thiết giáp hạm số 3, Haruna hoạt động trong hầu hết các trận chiến chủ yếu tại mặt trận Thái Bình Dương trong Thế Chiến II: yểm trợ cho cuộc đổ bộ lên Malaya và Đông Ấn thuộc Hà Lan vào năm 1942 trước khi đối đầu lực lượng Mỹ trong trận Midway và trong suốt chiến dịch Guadalcanal. Trong suốt năm 1943, Haruna hầu như ở lại các cảng tại Truk, Kure, Sasebo và Lingga, đã được bố trí trong nhiều dịp để đối phó với các cuộc tấn công của Mỹ vào các căn cứ Nhật Bản. Haruna tham gia trong cả trận chiến biển Philippine và hải chiến vịnh Leyte trong năm 1944, đã đối đầu cùng các tàu chiến Mỹ trong dịp này. Vào năm 1945, Haruna được chuyển về Căn cứ hải quân Kure trước khi bị đánh chìm bởi máy bay của Lực lượng Đặc nhiệm TF 38 vào ngày 24 tháng 7 năm 1945.
[sửa] Thiết kế và chế tạo
[sửa] Thiết kế
Haruna là chiếc thứ tư và là chiếc cuối cùng của Hải quân Đế quốc Nhật Bản thuộc lớp tàu chiến-tuần dương Kongō, là nhóm các tàu chiến chủ lực được thiết kế bởi kỹ sư hàng hải người Anh George Thurston.[3] Lớp này được đặt hàng vào năm 1910 trong đạo luật Phát triển Hải quân Nhật Bản khẩn cấp sau khi chiếc HMS Invincible của Hải quân Anh được đưa ra hoạt động vào năm 1908.[4] Bốn chiếc tàu chiến-tuần dương của lớp Kongō được thiết kế để nhằm bắt kịp khả năng của các thế lực hải quân lớn trên thế giới vào thời đó; chúng được gọi là phiên bản tàu chiến-tuần dương của chiếc thiết giáp hạm Anh Quốc (trước đây thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) HMS Erin.[1][2] Với trang bị vũ khí hạng nặng và vỏ giáp dày (chiếm đến 23,3% so với tổng lượng rẽ nước khoảng 30.000 tấn của nó),[2] Haruna và các con tàu chị em với nó có ưu thế vượt trội so với tất cả các tàu chiến chủ lực Nhật Bản khác vào lúc đó.[1]
[sửa] Vũ khí
Hỏa lực chính của Haruna bao gồm 8 khẩu pháo cỡ nòng lớn 356 mm (14 inch) bố trí trên bốn tháp súng (2 phía trước và 2 phía sau).[3] Mỗi khẩu có thể bắn ra hai đầu đạn phá công suất cao hay đầu đạn xuyên thép mỗi phút với tầm xa 35,5 km (38.770 yard).[5] Tuân theo học thuyết hải chiến của Nhật, trong đó sẽ bố trí các tàu chiến mạnh hơn trước các đối thủ, Haruna và các tàu chị em của nó lần đầu tiên trên thế giới được trang bị pháo với cỡ nòng lớn 356 mm (14 inch).[6]
Pháo hạng hai của nó ban đầu bao gồm 16 khẩu pháo hạng trung 152 mm (6 inch) (tất cả được bố trí ở giữa tàu)[1] và 8 khẩu pháo 127 mm (5 inch).[3] Đến năm 1943, hỏa lực hạng hai của Haruna được cấu trúc lại thành 14 khẩu pháo hạng trung 152 mm (6 inch), 8 khẩu pháo 127 mm (5 inch) và 112 súng phòng không 25 mm (1 inch).[3]
[sửa] Chế tạo
Lườn của Haruna được đặt bởi hãng Kawasaki tại xưởng tàu ở Kôbe vào ngày 16 tháng 3 năm 1912, với đa số các linh kiện dùng trong việc chế tạo nó được sản xuất tại Nhật Bản.[4][2] Do sự thiếu hụt các ụ đóng tàu, Haruna và Kirishima là hai chiếc tàu chiến chủ lực đầu tiên của Hải quân Đế quốc Nhật Bản được chế tạo tại các xưởng tàu tư nhân.[2] Sau khi được hạ thủy vào ngày 14 tháng 12 năm 1913, công việc trang bị cho Haruna được khởi sự vào đầu năm 1914.[1] Vào ngày 15 tháng 12 năm 1914, Thuyền trưởng Kajishiro Funakoshi được chỉ định làm sĩ quan trang bị trưởng của con tàu,[4] và nó được hoàn tất vào ngày 19 tháng 4 năm 1915.[2]
[sửa] Lịch sử hoạt động
[sửa] 1915-1926: Tàu chiến-tuần dương
Vào ngày 19 tháng 4 năm 1915, Haruna chính thức được đưa vào hoạt động tại Kôbe, và Thuyền trưởng Funakoshi là vị chỉ huy đầu tiên của con tàu. Ngày 13 tháng 12 năm 1915, sau tám tháng chạy thử máy, Haruna được bố trí đến Hải đội Thiết giáp hạm 3 thuộc Hạm Đội 2, và thuyền trưởng Mitsuzo Nunome tiếp nhận quyền chỉ huy con tàu. Vào ngày 9 tháng 4 năm 1916, Haruna rời Căn cứ Hải quân Sasebo để hoạt động tại biển đông Trung Quốc, và quay trở về Nhật bản mười ngày sau đó. Ngày 1 tháng 1 năm 1916, Thuyền trưởng Saburo Hyakutake tiếp nhận quyền chỉ huy chiếc Haruna cho đến ngày 15 tháng 9 năm 1917, khi Thuyền trưởng Naomi Taniguchi thay thế ông. Vào ngày 1 tháng 12 năm 1917, Haruna được đưa về làm lực lượng dự bị, vì tình trạng chiến sự đã chấm dứt tại mặt trận Thái Bình Dương của Thế chiến I.[4]
Ngày 12 tháng 9 năm 1920, Haruna tham gia một cuộc thực tập tác xạ pháo ngoài khơi đảo Hokkaido khi một vụ nổ khóa nòng phá hủy khẩu pháo bên phải của tháp súng số 1, làm thiệt mạng 7 người và làm hư hỏng nặng nóc bọc thép của tháp súng. Một cuộc điều tra sau đó của Hải quân Nhật cho thấy một kíp nổ hỏng đã kích nổ các bao thuốc súng trong khóa nòng gây nổ quả đạn ngay khi còn trong nòng súng. Tháp súng được sửa chữa tại Yokosuka, nơi góc nâng của các khẩu pháo 356 mm (14 inch) trên chiếc Haruna được tăng thêm 7o. Ba tháng sau, Haruna lại được đưa vào lực lượng dự bị.[4]
Với việc kế thúc Thế Chiến I và ký kết Hiệp ước Hải quân Washington, lực lượng của Hải quân Đế quốc Nhật Bản bị giảm đi đáng kể theo tỉ lệ 5:5:3 được đòi hỏi về số tàu chiến chủ lực của Anh Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản.[7] Hiệp ước này còn giới hạn không cho phép Nhật Bản chế tạo tàu chiến chủ lực mới cho đến năm 1931, và không có chiếc nào có lượng rẽ nước vượt quá 35.000 tấn.[8] Những tàu chiến hiện hữu được phép nâng cấp bổ sung thêm đai giáp chống ngư lôi và vỏ giáp trên sàn tàu nhưng lượng rẽ nước cộng thêm vào không vượt quá 3.000 tấn.[8] Vào lúc mà Hiệp ước Washington có hiệu lực hoàn toàn tại Nhật Bản, chỉ có hai lớp tàu chiến thời Đệ nhất Thế chiến còn hoạt động: lớp thiết giáp hạm Yamashiro và lớp tàu chiến-tuần dương Kongō.[9]
[sửa] 1926-1927: Tái cấu trúc lần thứ nhất
Vì không thể chế tạo tàu chiến chủ lực mới cho đến tận năm 1931, Nhật Bản quyết định cho nâng cấp những chiếc thiết giáp hạm và tàu chiến-tuần dương cũ hơn. Vào tháng 7 năm 1926, Haruna trở thành tàu chiến đầu tiên của Nhật Bản được cải tiến và hiện đại hóa một cách triệt để khi nó vào ụ tàu Yokosuka.[1] Trong hai năm sau đó, vỏ giáp ngang gần các hầm đạn của chiếc Haruna được tăng cường, trong khi khoảng trống cho phò̉ng máy trong khung tàu được mở rộng.[4] Đai giáp chống ngư lôi dọc theo mực nước cũng được bổ sung, như được cho phép bởi Hiệp ước Washington.[1]
Để phù hợp với những xu hướng thay đổi trong hải chiến, Haruna cũng được gắn các thiết bị cần thiết để có thể mang ba chiếc thủy phi cơ Kiểu 90 Loại 0.[4] Cùng nỗ lực gia tăng tốc độ và khả năng về động lực, tất cả 36 nồi hơi Yarrow được tháo bỏ để thay thế bằng 16 nồi hơi mới cùng các turbine Brown-Curtis dẫn động trực tiếp.[1] Ống khói phía trước của chiếc Haruna được tháo bỏ, trong khi ống khói thứ hai được mở rộng và nâng cao. Việc cải tiến thân tàu đã làm tăng trọng lượng của vỏ giáp bảo vệ từ 6.502 lên 10.313 tấn, vi phạm trực tiếp các điều khoản của Hiệp ước Washington.[1] Vào tháng 7 năm 1928, Haruna với khả năng đạt được tốc độ 54 km/h (29 knot) được xếp lại lớp thành một thiết giáp hạm.[4]
[sửa] 1927-1933: Thiết giáp hạm
Vào ngày 10 tháng 12 năm 1928, theo sau các đợt chạy thử như một thiết giáp hạm, Haruna được bố trí về Hải đội Thiết giáp hạm 4 của Hạm đội 2 và như một tàu đặc biệt của Nhật Hoàng.[10][4] Vào ngày 1 tháng 2 năm 1929, Hoàng tử Takamatsu, em trai của Nhật Hoàng Hirohito, được chỉ định làm một thành viên thủy thủ đoàn của chiếc Haruna. Trong 12 tháng tiếp theo sau đó, Haruna hoạt động giữa Sasebo, cảng Arthur và biển Đông Trung Quốc. Vào ngày 20 tháng 11 năm 1929, Haruna được bố trí về Hải đội Thiết giáp hạm 1. Chiếc tàu chiến lại được đưa về làm lực lượng dự bị vào ngày 1 tháng 12 năm 1930.[4]
Vào ngày 22 tháng 4 năm 1930, Nhật Bản ký kết Hiệp ước Hải quân London, giới hạn nghiêm ngặt hơn nữa lực lượng hải quân của họ. Ngoài việc phải tháo dỡ nhiều thiết giáp hạm cũ, Nhật Bản không được phép chế tạo tàu chiến chủ lực mới cho đến tận năm 1937.[11] Vào tháng 9 năm 1931, Nhật Bản tấn công Mãn Châu, vi phạm các hiệp ước hiện hữu của Hội Quốc Liên và luật pháp quốc tế.[11] Vào ngày 1 tháng 10 năm 1931, sau khi gắn thêm một số thiết bị nhỏ, việc tái cấu trúc chiếc Haruna được tuyên bố hoàn tất.[4] Vào ngày 8 tháng 11 năm 1931, Haruna phục vụ như tàu của Nhật Hoàng trong chuyến viếng thăm chính thức của Ngài đến tỉnh Kumamoto.[4] Haruna đưa đưa vào hoạt động thường trực và được bố trí vào Hải đội Thiết giáp hạm 1 vào ngày 20 tháng 5 năm 1933.[4]
Vào ngày 25 tháng 2 năm 1933, Hội Quốc Liên nhất trí rằng Nhật Bản đã vi phạm đến chủ quyền của Trung Quốc qua việc tấn công Mãn Châu.[11] Do từ chối không chấp nhận phán quyết của Hội Quốc Liên, Nhật Bản rút khỏi tổ chức này cùng ngày hôm đó.[11] Liền ngay sau đó, Nhật Bản cũng rút khỏi các hiệp ước hải quân Washington và London, và do đó không bị ràng buộc về số lượng và kích cỡ các con tàu chiến chủ lực của họ.[12]
[sửa] 1933-1934: Tái cấu trúc lần thứ hai
Vào ngày 1 tháng 8 năm 1933, Haruna trở vào ụ tàu tại Căn cứ Hải quân Kure chuẩn bị cho công việc nâng cấp cho phép nó có thể hộ tống hạm đội tàu sân bay của Nhật Bản đang không ngừng lớn mạnh.[4] Đuôi tàu được kéo dài thêm 8 m (26 ft), và cầu tàu được tái cấu trúc lại hoàn toàn theo kiểu thiết kế “tháp chùa” đặc trưng của Nhật dành cho cấu trúc thượng tầng phía trước.[4] 16 nồi hơi kiểu cũ được tháo bỏ và thay bằng 11 nồi hơi Kampon đốt dầu và các turbine truyền động mới.[1] Cho dù kể từ năm 1927 Haruna đã có thể mang theo thủy phi cơ, nó lại được nâng cấp với máy phóng và đường ray để hỗ trợ ba máy bay Nakajima E8N hoặc Kawanishi E7K dùng trong trinh sát và chỉ điểm pháo.[4]
Vỏ giáp của chiếc Haruna được cải thiện đáng kể trong lần tái cấu trúc thứ hai này. Đai giáp chống ngư lôi được tăng lên 200 mm (8 inch), trong khi vỏ giáp tháp súng được nâng cấp lên 225 mm (9 inch).[1] Lớp giáp bảo vệ sàn tàu dày từ 38 mm (1,5 inch) đến 70 mm (2,75 inch). Việc bảo vệ hầm đạn của chiếc Haruna cũng được gia cường lên độ dày 100 mm (4 inch).[1] Việc tái cấu trúc hoàn tất vào ngày 30 tháng 9 năm 1934.[2] Cho dù có sự gia tăng đáng kể lượng rẽ nước của thân tàu và vỏ giáp, Haruna vẫn có được tốc độ tối đa vượt hơn 55 km/h (30 knot), và do đó được xếp lại lớp thành một thiết giáp hạm nhanh.[4]
[sửa] 1934-1940: Các hoạt động trước chiến tranh
Vào ngày 28 tháng 10 năm 1935, Thuyền trưởng Jisaburo Ozawa nhận chức chỉ huy thiết giáp hạm Haruna. Vào ngày 1 tháng 6 năm 1936, chiếc thiết giáp hạm được bố trí vào Hải đội Thiết giáp hạm 3 của Hạm đội 1.[4] Cho đến năm 1937, Haruna tiến hành các cuộc thực tập tác xạ và tuần tra ngoài khơi bờ biển Trung Quốc, chủ yếu trong khu vực lân cận Tsingtao. Vào ngày 7 tháng 7 năm 1937, Nhật Bản chính thức tuyên chiến với Trung Quốc, khai mào cuộc chiến tranh Trung-Nhật.[13] Một tháng sau, Haruna vận chuyển các đơn vị Lục quân Nhật Bản sang lục địa Trung Hoa nhằm chuẩn bị cho các chiến dịch đánh sâu vào lãnh thổ Trung Hoa Dân Quốc. Đến ngày 1 tháng 12 năm 1937, một lần nữa Haruna được đưa về làm lực lượng dự bị.[4] Vào ngày 2 tháng 4 năm 1940, Haruna được chuyển từ căn cứ Sasebo sang Đài Loan. Haruna được xếp lại lớp thành một "tàu phục vụ đặc biệt" vào ngày 15 tháng 11 năm 1940, và năm tháng sau lại được bố trí vào Hải đội Thiết giáp hạm 3 của Hạm đội 1, đặt căn cứ tại Hashirajima.[4]
[sửa] 1941: Thế Chiến II
Haruna rời vùng biển Nhật Bản vào tháng 11 năm 1941 để tham gia giai đoạn mở màn của Mặt trận Thái Bình Dương. Nó và chiếc Kongo rời cảng Hashirajima ngày 29 tháng 11 năm 1941 như là thành phần Lực lượng Chủ lực của Hạm đội Phía Nam (Malay) dưới quyền chỉ huy chung của Phó Đô đốc Nobutake Kondo.[4] Vào ngày 4 tháng 12 năm 1941, Lực lượng Chủ lực đi đến vùng biển ngoài khơi Đông Dương chuẩn bị cho những chiến dịch tấn công vào các vị trí của Anh tại Singapore bốn ngày sau đó.[14] Khi "Lực lượng Z" của Anh Quốc bị đánh bại nhanh chóng bởi máy bay đặt căn cứ tại Sài Gòn. Nhóm chiến đấu của chiếc Haruna rút lui khỏi Malaya; rồi sau đó rời Đông Dương trong ba ngày vào giữa tháng 12 để bảo vệ một đoàn tàu vận tải tăng cường đi đến Malaya, và một lần nữa vào ngày 18 tháng 12 để yểm trợ cuộc đổ bộ của Lục quân Nhật lên vịnh Lingayen thuộc Philippines. Lực lượng Chủ lực rời vịnh Cam Ranh ngày 23 tháng 12 hướng đến Đài Loan, và đến nơi đó hai ngày sau.[4]
[sửa] 1942: Các hoạt động ban đầu trong cuộc chiến
Vào ngày 18 tháng 1 năm 1942, Lực lượng Chủ lực của Đô đốc Kondo đến Palau cùng với hai tàu sân bay nhanh với ý định yểm trợ cho cuộc chiếm đóng Borneo và Đông Ấn thuộc Hà Lan.[4] Haruna, Maya cùng các tàu sân bay Hiryū và Sōryū hoạt động tại khu vực phía Đông Mindanao cho đến ngày 18 tháng 2 năm 1942, khi Lực lượng Chủ lực rời Palau chuẩn bị cho "Chiến dịch J" tấn công chiếm đóng Đông Ấn thuộc Hà Lan. Vào ngày 25 tháng 2 năm 1942, Đội Thiết giáp hạm 3 yểm trợ cho các cuộc không kích lên đảo Java.[1] Haruna tiến hành bắn phá đảo Christmas vào ngày 7 tháng 3 năm 1942, rồi quay về vịnh Staring để bảo trì và nghỉ ngơi trong 15 ngày.[4] Trong tháng 4 năm 1942, Haruna gia nhập lực lượng năm tàu sân bay hạm đội tiến hành trận không kích Ấn Độ Dương nhắm vào Colombo.[15] Tiếp theo sau việc tiêu diệt chiếc Dorsetshire vào ngày 5 tháng 4 năm 1942, Haruna được gửi đến hướng Tây Nam để truy tìm phần còn lại của Hạm đội Viễn Đông Anh Quốc dưới quyền chỉ huy của Đô đốc James Somerville.[16] Vào ngày 9 tháng 4 năm 1942, một trong những máy bay trinh sát của chiếc Haruna phát hiện ra chiếc tàu sân bay Hermes ở phía Nam Trincomalee; và các cuộc không kích của Nhật đã đánh chìm nó trong ngày hôm đó.[16] Sau khi làm tê liệt khả năng tấn công của Hạm đội Viễn Đông Anh, Đội Thiết giáp hạm 3 quay trở về Nhật Bản vào ngày 23 tháng 4 năm 1942. Haruna vào ụ tàu trong suốt tháng 5 năm 1942 để tu bổ và cải tiến.[4]
Vào ngày 29 tháng 5 năm 1942, Haruna hợp cùng chiếc tàu chị em với nó Kirishima tham gia lực lượng tàu sân bay của Phó Đô đốc Chūichi Nagumo trong trận Midway.[17] Vào ngày 4 tháng 6, Haruna chịu đựng nhiều đợt tấn công của máy bay ném ngư lôi Mỹ, nhưng nó thoát ra mà không bị đánh trúng cú nào trong khi bắn rơi được năm máy bay đối phương.[4] Sang ngày 5 tháng 6, Haruna vớt những người sống sót trên bốn chiếc tàu sân bay bị đánh chìm trước khi quay trở về Nhật Bản.[4] Nó ở lại vùng biển Nhật Bản cho đến tháng 9 năm 1942, trải qua một số cải tiến nhỏ trong tháng 8 năm đó.[1]
Vào ngày 6 tháng 9 năm 1942, Haruna cùng với phần còn lại của Hải đội Thiết giáp hạm 3 được chuyển đến Truk, và đến ngày 10 tháng 9 năm 1942 con tàu khởi hành trong đội hình của Hạm đội 2 dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Kondo hướng về quần đảo Solomon.[18] Vào ngày 20 tháng 9 năm 1942, hạm đội được lệnh quay trở về Truk. Hai ngày sau trận chiến mũi Esperance, 13 tháng 10 năm 1942, Haruna và Kongō tham gia vào cuộc bắn phá sân bay Henderson, đã nả 918 quả đạn pháo 356 mm (14 inch), gây hư hỏng nặng cho sân bay cùng phá hủy 48 máy bay.[19] Trong trận chiến quần đảo Santa Cruz ngày 26 tháng 10 năm 1942, Haruna bị tấn công bất thành bởi một chiếc thủy phi cơ PBY Catalina; con tàu hoàn toàn bình an trong suốt trận đánh. Vào giữa tháng 11, chiếc thiết giáp hạm cùng các tàu chiến khác tham gia yểm trợ từ xa cho những nỗ lực bất thành nhằm bắn phá sân bay Henderson và các lực lượng tăng cường trên đảo Guadalcanal một lần nữa. Đến ngày 15 tháng 11 năm 1942, sau thất bại của hạm đội Nhật Bản và việc mất chiếc Kirishima trong trận Hải chiến Guadalcanal, Hải đội Thiết giáp hạm 3 rút lui về Truk, nơi nó ở lại đó cho đến hết năm 1942.[4]
[sửa] 1943: Di chuyển giữa các căn cứ
Cuối tháng 1 năm 1943, Haruna tham gia vào Chiến dịch Ke, hoạt động như một thành phần của lực lượng nghi binh đồng thời yểm trợ từ xa cho các tàu khu trục Nhật Bản di tản những người còn lại trên đảo Guadalcanal.[20] Từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 2 năm 1943, Hải đội Thiết giáp hạm 3 chuyển từ Truk về căn cứ hải quân Kure. Từ ngày 23 tháng 2 đến ngày 31 tháng 3 năm 1943, Haruna vào ụ tàu tại Kure để nâng cấp, được trang bị thêm các khẩu súng phòng không 25 mm và tăng cường vỏ giáp. Ngày 17 tháng 5 năm 1943, đáp trả lại việc quân Mỹ tấn công lên đảo Attu, Haruna khởi hành cùng với thiết giáp hạm Musashi, Hải đội Thiết giáp hạm 3, hai tàu sân bay, hai tàu tuần dương và chín tàu khu trục. Ba ngày sau, tàu ngầm Mỹ USS Sawfish phát hiện ra lực lượng này nhưng không thể tấn công. Vào ngày 22 tháng 5 năm 1943, lực lượng đặc nhiệm này đi đến Yokosuka, nơi nó được bổ sung thêm hai tàu sân bay hạm đội và hai tàu tuần dương hạng nhẹ. Tuy nhiên lực lượng này sau đó được giải tán khi Attu thất thủ trước khi các công việc chuẩn bị cần thiết kịp hoàn tất. Trong suốt tháng 6 năm 1943, Haruna được tái trang bị tại Yokosuka. Vào ngày 18 tháng 9 năm 1943, Haruna rời Truk như một phần của lực lượng phản công đáp trả lại vụ không kích của Mỹ lên đảo Brown, nhưng họ đã không thể bắt gặp đối phương và chiếc tàu chiến quay trở về căn cứ.[4]
Vào ngày 17 tháng 10 năm 1943, Haruna một lần nữa rời Truk cùng một lực lượng lớn hơn đáng kể, bao gồm năm thiết giáp hạm, ba tàu sân bay hạm đội, tám tàu tuần dương hạng nặng, ba tàu tuần dương hạng nhẹ cùng nhiều tàu khu trục, để đáp trả lại lực lượng Mỹ không kích lên đảo Wake. Khi không bắt gặp được đối phương, lực lượng trên quay trở về Truk ngày 26 tháng 10 năm 1943. Vào ngày 16 tháng 12 năm 1943, Haruna quay trở về Sasebo để được tái trang bị và tiấn hành huấn luyện tại vùng biển nội địa Nhật Bản, kết thúc trọn năm 1943 mà không giáp chiến cùng bất kỳ lực lượng đối phương nào.[1]
[sửa] 1944: Các hoạt động tác chiến cuối cùng
Ngày 25 tháng 1 năm 1944, Thuyền trưởng Kazu Shigenaga tiếp nhận quyền chỉ huy chiếc Haruna trong khi nó còn đang ở tại Kure. Hải đội Thiết giáp hạm 3 rời Kure ngày 8 tháng 3 năm 1944 đi đến Lingga, phía Nam Singapore. Đến nơi ngày 14 tháng 3 năm 1944, hải đội ở lại Lingga để huấn luyện cho đến ngày 11 tháng 5 năm 1944.[4] Ngày 11 tháng 5 năm 1944, Haruna cùng Hạm đội Liên hợp của Đô đốc Ozawa khởi hành từ Lingga đi đến Tawi Tawi, nơi nó hội quân cùng "Lực lượng C" dưới quyền chỉ huy của Phó Đô đốc Takeo Kurita. Ngày 13 tháng 6, Hạm đội Liên hợp của Đô đốc Ozawa rời Tawi Tawi hướng đến quần đảo Mariana.[21] Trong Trận chiến biển Philippine diễn biến sau đó, Haruna hộ tống các tàu sân bay hạm đội Nhật Bản, và vào ngày 20 tháng 6 năm 1944 nó đã trúng phải hai quả bom xuyên thép 225 kg (500 lb) bởi máy bay từ các tàu sân bay Mỹ.[22] Ngày 24 tháng 6, Haruna vào ụ tàu tại Kure để sửa chữa và tái trang bị. Trong tháng 8 năm 1944 nó được chuyển đến Lingga.[4]
Đến tháng 10 năm 1944, Haruna rời Lingga chuẩn bị cho Chiến dịch Sho-1, cuộc phản công của Nhật Bản trong trận chiến vịnh Leyte, trận hải chiến lớn nhất lịch sử.[23] Vào ngày 24 tháng 10 năm 1944, Haruna bị hư hại nhẹ trong vùng biển Sibuyan bởi các cuộc không kích xuất phát từ các tàu sân bay Mỹ. Ngày 25 tháng 10, trong trận chiến ngoài khơi Samar, Haruna trong thành phần lực lượng trung tâm của Đô đốc Kurita, đã tấn công các tàu sân bay hộ tống và tàu khu trục của lực lượng "Taffy 3" thuộc Hạm đội 7 Hoa Kỳ. Haruna đã bắn trúng đích nhiều phát đạn 356 mm (14 inch) vào hai chiếc tàu sân bay hộ tống Hoa Kỳ trước khi Kurita quyết định rút lui kết thúc trận đánh.[24]
Sau thất bại của Hải quân Nhật tại vịnh Leyte, Haruna quay trở về Brunei và Lingga để sửa chữa. Vào ngày 22 tháng 11 năm 1944, Haruna bị mắc cạn tại một bãi san hô ngầm gần Lingga, bị hỏng nặng các khoang kín nước, và nó buộc phải quay về Sasebo để vá lại lườn tàu.[4] Vào ngày 2 tháng 12 năm 1944, trong khi từ Đông Nam Á quay trở về Nhật Bản trong thành phần của đội đặc nhiệm, Haruna bị một tàu ngầm Mỹ tấn công, nhưng nó đã tránh được các quả ngư lôi bắn về hướng nó. Vào ngày 9 tháng 12 năm 1944, thêm ba tàu ngầm Mỹ đánh chặn đội đặc nhiệm, các tàu ngầm Sea Devil, Plaice và Redfish đã gây hư hại chiếc tàu sân bay Junyo cùng nhiều tàu khu trục bằng ngư lôi; tuy nhiên Haruna đã thoát ra được mà không hề hấn gì, và về đến Sasebo ngày hôm sau. Đến cuối năm 1944, Haruna được chuyển đến Kure để sửa chữa toàn diện và nâng cấp, đã trải qua một năm sống sót trong khi bốn thiết giáp hạm Nhật Bản khác đã bị mất.[25]
[sửa] 1945: Bị mất
Ngày 1 tháng 1 năm 1945, Haruna được rút khỏi Hải đội Thiết giáp hạm 3 vốn đã ngưng hoạt động để chuyển sang Hải đội Thiết giáp hạm 1 của Hạm đội 2. Vào ngày 10 tháng 2, Haruna được phân về Căn cứ Hải quân Kure. Đến ngày 19 tháng 3 năm 1945, máy bay từ các tàu sân bay Mỹ tấn công vào lực lượng còn lại của Hải quân Nhật tại Kure. Thiệt hại không đáng kể một phần là nhờ căn cứ được phòng thủ bởi các phi công dầy dạn kinh nghiệm đang làm nhiệm vụ huấn luyện phi công mới, lái những chiếc máy bay tiêm kích mới Kawanishi N1K "Shiden" hoặc "George".[26] Dưới sự chỉ huy của Minoru Genda, người từng vạch kế hoạch tấn công Trân Châu Cảng, sự xuất hiện của những chiếc máy bay tiêm kích này, vốn có tính năng bay ngang bằng hoặc vượt trội hơn kiểu máy bay tiêm kích chủ lực F6F Hellcat của Hải quân Mỹ,[26] đã gây bất ngờ cho những kẻ tấn công, và nhiều máy bay Mỹ đã bị bắn rơi.[27] Haruna bị đánh trúng một quả bom duy nhất bên mạn phải nhưng chỉ gây thiệt hại nhẹ cho con tàu.[4] Haruna tiếp tục ở lại Kure cho đến tháng 7 năm 1945.[28]
Từ ngày 24 tháng 7 năm 1945, Lực lượng Đặc nhiệm TF38 của Hải quân Mỹ bắt đầu một loạt các cuộc không kích xuống căn cứ hải quân Kure với ý định tiêu diệt hoàn toàn phần còn lại của Hải quân Nhật. Trong ngày 24 tháng 7 năm 1945, thiết giáp hạm Hyūga bị đánh chìm,[29] và Haruna bị đánh trúng một quả bom gây hư hại nhẹ.[4] Ngày 28 tháng 7 năm 1945, Haruna chịu đựng một cuộc không kích nặng nề bởi máy bay của Lực lượng Đặc nhiệm TF38, bị đánh trúng chín quả bom trước khi bị chìm tại nơi neo đậu lúc 16 giờ 15 phút.[29] Trong hai ngày bị tấn công, 65 sĩ quan và thủy thủ của chiếc Haruna đã bị thiệt mạng. Đến năm 1946, phần còn lại của chiếc Haruna được trục vớt lên khỏi mặt nước, và trong hai năm sau đó nó được tháo dỡ.[4]
[sửa] Chú thích
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t Jackson (2007), p. 27
- ^ a b c d e f g Gardiner and Gray (1980), p. 234
- ^ a b c d e f g h i j k l “Combined Fleet - Haruna”. Parshall, Jon; Bob Hackett, Sander Kingsepp, & Allyn Nevitt. Truy cập 11 tháng 2 năm 2009.
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y z aa ab ac ad ae af ag ah ai “Combined Fleet - tabular history of Haruna”. Parshall, Jon; Bob Hackett, Sander Kingsepp, & Allyn Nevitt. Truy cập 11 tháng 2 năm 2009.
- ^ “Combined Fleet - 14"/45 Naval Gun”. Parshall, Jon; Bob Hackett, Sander Kingsepp, & Allyn Nevitt. Truy cập 11 tháng 2 năm 2009.
- ^ Jackson (2000), p. 48
- ^ Jackson (2000), p. 67
- ^ a b Jackson (2000), p. 68
- ^ Jackson (2000), p. 69
- ^ Tàu đặc biệt của Nhật Hoàng là tàu được chỉ định làm phương tiện di chuyển chính thức của Hoàng đế Nhật Bản trong suốt phạm vi đế chế của Ngài.
- ^ a b c d Jackson (2000), p. 72
- ^ Willmott (2002), p. 35
- ^ Willmott (2002), p. 23–24
- ^ Willmott (2002), p. 56
- ^ Boyle (1998), p. 368
- ^ a b Boyle (1998), p. 370
- ^ Willmott (2002), p. 93
- ^ Willmott (2002), p. 100
- ^ Swanston (2007), p. 220
- ^ Swanston, p. 223
- ^ Willmott (2002), p. 141
- ^ Swanston (2007), p. 352
- ^ Steinberg (1980), p. 49
- ^ Boyle (1998), p. 508
- ^ Jackson (2000), p. 127
- ^ a b Reynolds (1982), p. 160
- ^ Reynolds (1968), p. 338
- ^ Jackson (2000), p. 128
- ^ a b Jackson (2000), p. 129
[sửa] Tham khảo
- Boyle, David (1998). World War II in Photographs. London. Rebo Productions. ISBN 1-84053-089-8
- Jackson, Robert (2000). The World's Great Battleships. Brown Books. ISBN 1-897884-60-5
- Jackson, Robert (editor) (2008). 101 Great Warships. London. Amber Books. ISBN 978-1-905704-72-9
- Reynolds, Clark G. (1968). The Fast Carriers; The Forging of an Air Navy. New York, Toronto, London, Sydney: McGraw-Hill Book Company.
- Reynolds, Clark G (1982). The Carrier War. Time-Life Books. ISBN 0-8094-3304-4
- Steinberg, Rafael (1980) Return to the Philippines. Time-Life Books Inc. ISBN 0-8094-2516-5
- Swanston, Alexander & Swanston, Malcom (2007). The Historical Atlas of World War II. London: Cartographica Press Ltd. ISBN 0-7858-2200-3
- Willmott, H.P. & Keegan, John [1999] (2002). The Second World War in the Far East. Smithsonian Books. ISBN 2004049199.
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về: Haruna (thiết giáp hạm Nhật) |
|
||||||||