Haruno Sakura

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Haruno Sakura
(của Masashi Kishimoto)
(春野 サクラ)
Haruno Sakura.jpg
Haruno Sakura trong Naruto
Xuất hiện lần đầu Manga Naruto chương 3
Anime Naruto tập 1
Diễn viên lồng tiếng Chie Nakamura[1]
Diễn viên lồng tiếng Anh Kate Higgins[2]
Diễn viên lồng tiếng Việt Kim Ngọc
Hồ sơ
Tuổi 12[3]-13[4] trong Phần I
15[5]-16[6] trong Phần II
Ngày sinh 28 tháng 3
Nhóm máu O
Chiều cao Phần I: 153,7 cm
Phần II: 163 cm
Cân nặng Phần I: 42 kg
Phần II: 52,9 kg
Số đăng ký ninja 012601
Thông tin
Cấp bậc chính thức Trung Nhẫn
Làng hiện tại Mộc Diệp
Đội hiện tại Nhóm Kakashi
Đội trước kia Nhóm 7
Những thuật biết sử dụng
  • Chakra Enhanced Strength
   * Chakra Scalpel
   * Cherry Blossom Impact
   * Delicate Illness Extraction Technique
   * Mystical Palm Technique


Haruno Sakura (春野 サクラ Haruno Sakura, Phiên âm Hán Việt: Xuân Dã Anh?) là một nhân vật trong bộ mangaanime Naruto do Masashi Kishimoto sáng tác. Cái tên Haruno có nghĩa là "mùa xuân" và Sakura nghĩa là "hoa anh đào", là hoa được coi trọng ở Nhật Bản nhờ vẻ đẹp của nó và vòng đời gần như quá ngắn (hoa anh đào có lịch sử gắn bó với samurai). Trong tiếng Nhật, Haru no Sakura nghĩa là "hoa anh đào của mùa xuân", có lẽ là nguồn gốc cho cái tên.

Sakura đã trở thành vai nữ chính của truyện, dù ban đầu cô không có chủ ý làm vai chính. Kishimoto gặp phải vài khó khăn trong việc vẽ cô ta, khiến Kishimoto vô tình làm nổi bật vài bộ phận của cô, trong đó có cái trán.[7][8]

Sakura là một kunoichi (ninja nữ) thuộc làng Mộc Diệp, và nằm trong Nhóm 7, gồm có chính cô, Uzumaki Naruto, Uchiha Sasuke, và giáo viên (sensei), Hatake Kakashi. Sakura ban đầu mê đắm Sasuke, ca ngợi cậu ta bất cứ khi nào có thể, và luôn đùn đẩy cậu Naruto kém kinh nghiệm hơn. Khi Sasuke rời làng bỏ đi, cô cảm thấy vô cùng suy sụp, cô bắt đầu từ bỏ tính cách này và biết ơn cũng như chấp nhận Naruto với tư cách là 1 người đồng đội; trong Phần II, cô bắt đầu đối xử tốt hơn với cậu, họ cùng cố gắng thực hiện ước mơ mang người đồng đội biệt ly Sasuke trở lại. Vài nhà xuất bản manga và anime đã bày tỏ sự hoan nghênh cũng như phê bình nhân vật Sakura. Ban đầu cô ta được coi là một nhân vật shōnen điển hình, có vai trò làm cô gái trong mơ của nhân vật chính.[9][10] Việc cô thoát ra được khỏi khuôn mẫu điển hình này khi câu chuyện tiếp diễn đã được các nhà phê bình đánh giá cao.[11]===

Tạo dựng[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù Sakura là nhân vật nữ thường gặp nhất trong Naruto, Masashi Kishimoto ban đầu lại không có ý định cho Sakura làm một nhân vật nữ anh hùng. Kishimoto quy việc này là do anh không thể vẽ tốt nữ anh hùng, và lại còn cô gái điệu đà Sakura không hiểu nổi đàn ông là một ví dụ cho nữ anh hùng mà anh không thể giải quyết. Việc tạo ra Sakura là do mong muốn tạo ra một nhân vật có hơi gây khó chịu nhưng có thiện chí tốt của Kishimoto.[7] Mặc dù có những yếu tố này, Kishimoto vẫn thích Sakura, vì anh cảm thấy nhiều tính cách của cô đều dễ gặp trong mỗi người, vì vậy khiến cô có lòng nhân đạo thực thụ.[12]

Khi thiết kế Sakura, Kishimoto tập trung vào hình bóng của cô và tạo ra một trang phục càng đơn giản càng tốt. Đây là một sự chệch hướng với các nhân vật chính khác trong truyện, vì họ đều có trang phục rất chi tiết. Xà cạp là khía cạnh đáng chú ý nhất, vì điều đó cho thấy cô ta rất năng động.[7] Vào lúc đầu xà cạp của cô kéo dài xuống dưới đầu gối và gần như trở thành quần. Khi Phần I tiếp diễn, xà cạp trở nên ngắn hơn và chật hơn.[13] Tương tự như sự thiếu kinh nghiệm của anh trong việc vẽ nữ anh hùng, vào lúc đầu Kishimoto không có đủ kinh nghiệm để vẽ Sakura trông "thật dễ thương". Mặc dù anh đã cho rằng ngoại hình cô có dễ thương hơn từ lúc đó, Kishimoto và nhiều thành viên làm manga Naruto đồng ý rằng Sakura "hơn cả dễ thương" vào đầu truyện.[12]

Đặc trưng cơ thể dễ thấy nhất của Sakura là cái trán của cô rộng vô cùng. Vì vậy, Kishimoto vào lúc đó quá tập trung vẽ nó trong những cảnh hay bản vẽ quảng cáo mà Sakura đóng vai trò chính. Vì vậy cái trán của cô trở nên quá rộng.[8] Khi thiết kế Sakura trong Phần II, Kishimoto quyết định thay quần áo cô sang một bộ kiểu karate sao cho linh hoạt hơn. Một phần ở trên vẫn có cảm giác truyền thống để làm cô ta trông nữ tính hơn.[14]

Đại cương nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Tính cách[sửa | sửa mã nguồn]

Sakura trong Phần II

Đầu truyện, Sakura mê đắm Uchiha Sasuke, bắt nguồn chủ yếu từ ngoại hình đẹp trai, thái độ trầm tĩnh, và tài năng phi thường. Vì vậy, nhiều dáng vẻ bên ngoài ban đầu của Sakura là để đóng góp cho nỗ lực chiếm được trái tim Sasuke.[15] Khi câu chuyện tiếp diễn và cô dành nhiều thời gian hơn với Sasuke và đồng đội, Sakura lo lắng rằng Sasuke một ngày nào đó sẽ rời bỏ cô và toàn bộ làng Mộc Diệp để đi tìm sức mạnh.[16] Khi nỗi sợ trở thành hiện thực vào cuối Phần I, Sakura làm tất cả những gì có thể để ngăn Sasuke rời bỏ, cô bày tỏ tình cảm của mình với cậu và xin đi cùng vì cô yêu cậu hơn bất cứ thứ gì trên đời. Sasuke đã không có tình cảm với Sakura ngay tử đầu và cậu không đồng ý tình cảm của cô, và cuối cùng cậu đã bỏ đi và chỉ để lại 1 tiếng nói cảm ơn.[17] Kể từ đó, Sakura cảm thấy vô cùng đau buồn, cô đã lập ra mục tiêu riêng là mang Sasuke trở về, nó trở thành yếu tố chính trong vai trò của cô ở Phần II.[18] Mặc dù cô ta vẫn còn lo lắng đến cậu ta[19] và không cho phép người khác lăng mạ Sasuke,[20] Sakura sẵn sàng tấn công cậu nếu điều đó nghĩa là mang được cậu về Mộc Diệp.Và cô đã sử dụng sức mạnh siêu nhân, tát lên má cua Karin (đồng đội phần 2 của Sasuke.) ([21]

Cách nhìn của cô với Uzumaki Naruto đã thay đổi qua thời gian. Khi lần đầu cùng nhóm, Sakura coi Naruto là một thằng ngốc bất tài có chủ tâm hủy hoại cuộc sống của cô.[15] Khi câu chuyện tiến triển và Naruto liên tục chứng tỏ giá trị của mình khi là một ninja cũng như sự giúp đỡ với đồng đội của mình, Sakura nhận ra quan điểm ban đầu của cô về cậu ta là sai lầm, giờ đây cô đã coi cậu như 1 người bạn thân của mình.[22] Sau khi Sasuke rời bỏ Mộc Diệp ở cuối Phần I, Sakura cầu xin Naruto mang cậu ta trở lại. Naruto đã đồng ý và hứa sẽ dùng tấc cả sức mạnh của mình để mang Sasuke về cho cô.[23] Dù cậu đã thất bại và nằm trong bệnh viện sau đó, cậu thề rằng một ngày nào đó sẽ hoàn thành công việc mà cô giao cho cậu, tình bạn sâu sắc của cậu với Sasuke đã mang lại sức mạnh cho cậu dể cậu tiếp tục cố gắng. Sasuke bỏ đi, Sakura cảm thấy vô cùng suy sụp, điều đó đã tác động rất lớn đến cô, với ước mong được gặp lại Sasuke, cô quyết tâm rèn luyện hết mình trở nên mạnh hơn để có thể đưa cậu trở về.[18] Khi họ tìm kiếm Sasuke trong Phần II, Sakura nhận ra nhiều khó khăn mà Naruto phải đối đầu: Hồ Ly Chín ĐuôiThiều.[24] Buồn vì tác động của cả 2 thế lực đó lên cuộc sống của cậu, Sakura cố làm những gì có thể để giúp cậu vượt qua trở ngại này.[25]

Bên trong Sakura tồn tại "Sakura Nội tâm", một sự biểu hiện của cảm xúc nội tâm cô ta có. Sakura Nội tâm còn thể hiện ý kiến thật sự của Sakura về sự việc gì đó trong khi cô phát biểu ra ngoài điều ngược lại.[15] Hình dáng Sakura Nội tâm có đặc điểm là khắc chữ "Shānnarō" (しゃーんなろー). Cụm từ này không có ý nghĩa thật sự, nhưng thường được dịch là "quá đỉnh," hay "chết tiệt" tùy vào tình huống. Viz media thay thế nó bằng từ "Cha!" trong phiên bản tiếng Anh của Naruto. Mặc dù vào đầu truyện nó xuất hiện khá thường xuyên, Sakura Nội tâm biến mất ở giữa Phần I, sự xuất hiện duy nhất tiếp theo là ở đầu Phần II.[26] Như vậy, Sakura bây giờ thể hiện cảm xúc bộc phát mà cô từng phải dựa vào Sakura Nội tâm.[27]

Khả năng[sửa | sửa mã nguồn]

Sakura đang xuất thuốc độc khỏi cơ thể Kankuro.

Vào đầu Phần I, hầu như không thể thấy khả năng của Sakura phát triển. Trong khi cô ta có vẻ thành thạo vài thuật ninja cơ bản,[28] Sakura thiếu dấu ấn cá nhân để khác biệt với phần còn lại của Nhóm 7. Giáo viên của cô, Hatake Kakashi, lưu ý rằng Sakura có khả năng điều khiển chakra xuất sắc vào đầu Phần I,[29] nhưng phải đến Phần II cô mới được dạy cách dùng nó thành lợi thế.

Khả năng phần 2[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi được huấn luyện với Tsunade trong 2 năm rưỡi, Sakura có được 2 khả năng dựa trên sự điều khiển chakra chính xác của cô. Đầu tiên và cũng là khả năng thông dụng hơn là thuật chữa trị, giúp cô có vị trí làm ninja chữa trị trong nhóm mình. Nhờ vào khả năng hồi thương người khác nhanh chóng và hiệu quả, nhiều nhân vật cho rằng Sakura tài năng hơn nhiều ninja chữa trị có kinh nghiệm.[30] Vì một nhóm phụ thuộc vào ninja chữa trị để tồn tại, Sakura phải vừa tránh đụng độ đối thủ và giữ chúng ngoài tầm.[31] Điều này được thực hiện nhờ khả năng thứ hai:sức mạnh siêu nhân.[32] Bằng cách tập trung chakra trong nắm tay và giải phóng nó khi tiếp xúc mục tiêu, Sakura có thể dễ dàng phá hủy chướng ngại thành đá vụn. Trong Phần II này cô đã phối hợp ăn ý với bà Chiyo-một tham mưu của làng cát để đánh bại Sasori. Một thành viên của Akatsuki khi chuyên sử dụng rối đồng thời cũng là đứa cháu thân thương của bà Chiyo [33]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Chie Nakamura”. Anime News Network. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2008. 
  2. ^ “Kate Higgins”. Anime News Network. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2008. 
  3. ^ Kishimoto, Masashi (2002). NARUTO―ナルト―[秘伝・臨の書]. Shueisha. tr. 101. ISBN 4-08873-288-X. 
  4. ^ Kishimoto, Masashi (2005). NARUTO―ナルト―[秘伝・闘の書]. Shueisha. tr. 130–131. ISBN 4-08873-734-2. 
  5. ^ “Hiden: Shō no Sho Official Character Databook Mini”. Weekly Shōnen Jump (Shueisha) (18): 9. 2005. 
  6. ^ Kishimoto, Masashi (2008). Naruto Character Official Data Book Hiden Sha no Sho. Shueisha. tr. 137. ISBN 978-4-08-874247-2. 
  7. ^ a ă â Kishimoto, Masashi (2007). Uzumaki: the Art of Naruto. Viz Media. tr. 140. ISBN 1-4215-1407-9. 
  8. ^ a ă Kishimoto, Masashi (2007). Uzumaki: the Art of Naruto. Viz Media. tr. 122. ISBN 1-4215-1407-9. 
  9. ^ Ross, Christina. “THEM Anime Reviews 4.0 - Naruto”. T.H.E.M. Anime Reviews. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2008. 
  10. ^ Dodson, Joe (2007-10-13). “Franchise Player: Naruto”. GameSpot. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2008. 
  11. ^ White, Charles (2007-10-27). “IGN: Formation! The Sasuke Retrieval Squad! Review”. IGN. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2008. 
  12. ^ a ă Kishimoto, Masashi (2004). Naruto, Volume 3. Viz Media. tr. 146. ISBN 1-59116-187-8. 
  13. ^ Kishimoto, Masashi (2007). Uzumaki: the Art of Naruto. Viz Media. tr. 121. ISBN 1-4215-1407-9. 
  14. ^ Kishimoto, Masashi (2008). Naruto Character Official Data Book Hiden Sha no Sho. Shueisha. tr. 343. ISBN 978-4-08-874247-2. 
  15. ^ a ă â Kishimoto, Masashi (2006). “Chapter 3”. Naruto, Volume 1. Viz Media. ISBN 1-56931-900-6. OCLC 137303849. 
  16. ^ Kishimoto, Masashi (2007). “Chapter 178”. Naruto, Volume 20. Viz Media. tr. 142–143. ISBN 1-4215-1655-1. 
  17. ^ Kishimoto, Masashi (2007). “Chapter 181”. Naruto Volume 21. Viz Media. ISBN 1-4215-1855-4. OCLC 154689000. 
  18. ^ a ă Kishimoto, Masashi (2007). “Chapter 236”. Naruto, Volume 17. Viz Media. ISBN 1-4215-1863-5. OCLC 173499449. 
  19. ^ Kishimoto, Masashi (2007). “Chapter 311”. Naruto, Volume 35. Shueisha. ISBN 4-08-874138-3 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  20. ^ Kishimoto, Masashi (2006). “Chapter 286”. Naruto, Volume 32. Shueisha. ISBN 4-08-874039-3 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  21. ^ Kishimoto, Masashi (2006). “Chapter 308”. Naruto, Volume 34. Shueisha. ISBN 4-08-874138-3 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  22. ^ Kishimoto, Masashi (2006). “Chapter 105”. Naruto, Volume 12. Viz Media. tr. 109–110. ISBN 1-4215-0242-9. 
  23. ^ Kishimoto, Masashi (2007). “Chapter 183”. Naruto, Volume 21. Viz Media. tr. 58–62. ISBN 1-4215-1855-4. 
  24. ^ Kishimoto, Masashi (2008). “Chapter 252”. Naruto, Volume 28. Viz Media. tr. 166. ISBN 1-4215-1864-3. 
  25. ^ Kishimoto, Masashi (2006). “Chapter 297”. Naruto, Volume 33. Shueisha. ISBN 4-08-874108-6 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  26. ^ Kishimoto, Masashi (2008). “Chapter 250”. Naruto, Volume 28. Viz Media. tr. 125. ISBN 1-4215-1864-3. 
  27. ^ Kishimoto, Masashi (2006). “Chapter 312”. Naruto, Volume 35. Shueisha. ISBN 4-08-874273-1 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  28. ^ Kishimoto, Masashi (2006). “Chapter 90”. Naruto, Volume 10. Viz Media. tr. 162. ISBN 1-4215-0240-2. 
  29. ^ Kishimoto, Masashi (2006). “Chapter 18”. Naruto, Volume 3. Viz Media. tr. 16–17. ISBN 1-59116-187-8. 
  30. ^ Kishimoto, Masashi (2008). “Chapter 271”. Naruto, Volume 30. Viz Media. ISBN 1-4215-1942-9. OCLC 232546735. 
  31. ^ Kishimoto, Masashi (2008). “Chapter 270”. Naruto, Volume 30. Viz Media. ISBN 1-4215-1942-9. OCLC 232546735. 
  32. ^ Kishimoto, Masashi (2008). “Chapter 265”. Naruto, Volume 30. Viz Media. ISBN 4-08-873881-9 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  33. ^ Kishimoto, Masashi (2008). “Chapter 246”. Naruto, Volume 28. Viz Media. tr. 40. ISBN 1-4215-1864-3.