Hatakaze (tàu khu trục Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Japanese destroyer Hatakaze Taisho 14.jpg
Tàu khu trục Hatakaze ngoài khơi Mako, năm 1924
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Tên gọi: Tàu khu trục số 9
Hãng đóng tàu: Xưởng hải quân Maizuru
Đặt lườn: 3 tháng 7 năm 1923
Hạ thủy: 15 tháng 3 năm 1924
Hoạt động: 30 tháng 8 năm 1924
Đổi tên: Tàu khu trục số 9 thành Hatakaze: 1 tháng 8 năm 1928
Xóa đăng bạ: 10 tháng 3 năm 1945
Số phận: Bị máy bay Hải quân Mỹ đánh chìm ngày 15 tháng 1 năm 1945 tại Cao Hùng, Đài Loan ; tọa độ 22°37′B 120°15′Đ / 22,617°B 120,25°Đ / 22.617; 120.250
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Kamikaze
Trọng tải choán nước: 1.400 tấn (tiêu chuẩn);
1.720 tấn (đầy tải)
Độ dài: 97,5 m (319 ft 10 in) mực nước
102,6 m (336 ft 7 in)
Sườn ngang: 9,1 m (29 ft 10 in)
Mớn nước: 2,9 m (9 ft 6 in)
Động cơ đẩy: 2 × Turbine hộp số Parsons;
4 × nồi hơi ống nước Ro-Gō Kampon
2 × trục
công suất 38.500 mã lực (28,7 MW)
Tốc độ: 69 km/h (37,25 knot)
Tầm xa: 6.700 km ở tốc độ 26 km/h
(3.600 hải lý ở tốc độ 14 knot)
Thủy thủ đoàn: 168
Vũ trang: 3 × pháo 120 mm/45 caliber Kiểu 3
10 × pháo 25 mm Kiểu 96 đa dụng
4 × ống phóng ngư lôi 533 mm
16 × mìn sâu

Hatakaze (tiếng Nhật: 旗風) là một tàu khu trục hạng nhất, thuộc lớp Kamikaze của Hải quân Đế quốc Nhật Bản bao gồm chín chiếc, được chế tạo sau khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất kết thúc. Rất hiện đại vào lúc đó, những con tàu này đã phục vụ như những tàu khu trục hàng đầu trong những năm 1930, nhưng được xem là đã lạc hậu vào lúc Chiến tranh Thái Bình Dương nổ ra.[1] Ngoài một vài trận chiến, Hatakaze hầu như chỉ sử dụng trong vai trò tuần tra và hộ tống cho đến khi bị máy bay Hải quân Mỹ đánh chìm ngày 15 tháng 1 năm 1945 tại Cao Hùng, Đài Loan.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Việc chế tạo lớp tàu khu trục cỡ lớn Kamikaze được chấp thuận như một phần của Chương trình phát triển Hạm đội 8-4 trong năm tài chính 1921–1923 dành cho Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Thiết kế của chúng là sự tiếp nối của lớp Minekaze trước đó, vốn chia sẻ nhiều đặc tính thiết kế chung.[1] Được chế tạo tại Xưởng hải quân Maizuru, Hatakaze được đặt lườn vào ngày 3 tháng 7 năm 1923, được hạ thủy vào ngày 15 tháng 3 năm 1924 và được đưa ra hoạt động vào ngày 30 tháng 8 năm 1924.[2] Khi đưa vào hoạt động nó chỉ được gọi đơn giản là “Tàu khu trục số 9” (第九駆逐艦, Dai-9 Kuchikukan) trước khi được đặt tên Hatakaze vào ngày 1 tháng 8 năm 1928.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Vào lúc xảy ra cuộc tấn công Trân Châu Cảng, Hatakaze nằm trong thành phần Hải đội Khu trục 5 thuộc Phân hạm đội Khu trục 5 của Hạm đội 3 Hải quân Đế quốc Nhật Bản, và được bố trí từ Quân khu Bảo vệ Mako tại quần đảo Pescadores trong thành phần của lực lượng Nhật Bản tham gia trận Philippines, trong đó nó giúp hỗ trợ cho cuộc đổ bộ của lực lượng Nhật Bản lên Aparri.[3]

Vào đầu năm 1942, Hatakaze được giao nhiệm vụ hộ tống các tàu chở binh lính đến Singora, Mã LaiĐông Dương. Được phân về lực lượng chiếm đóng Java, nó đã tham gia trận chiến eo biển Sunda vào ngày 1 tháng 3 năm 1942. Trong trận này, nó đã phóng ngư lôi nhắm vào tàu tuần dương hạng nhẹ HMAS Perth (D29)tàu tuần dương hạng nặng USS Houston (CA-30).[4]

Từ ngày 10 tháng 3 năm 1942, Hatakaze cùng Hải đội Khu trục 5 được tái bố trí đến Hạm đội Khu vực Tây Nam và hộ tống các tàu chở binh lính từ Singapore đến Penang, Rangoon. Từ ngày 5 tháng 5, nó được tái bố trí trở lại Quân khu hải quân Yokosuka, nơi nó hoạt động như một tàu canh phòng trong vịnh Tokyo cho đến tháng 9. Vào ngày 25 tháng 9 năm, nó hộ tống chiếc tàu sân bay Unyō từ Xưởng hải quân Kure đến Truk, rồi từ đây hộ tống một đoàn tàu vận tải đi đến Rabaul và đến Palau, trước khi quay trở về Yokosuka vào ngày 24 tháng 11 nơi nó tiếp nối nhiệm vụ như một tàu canh phòng.[5]

Tuy nhiên, vào ngày 2 tháng 3 năm 1943, Hatakaze chịu đựng một vụ nổ tai nạn gây hư hại nặng phần đuôi tàu. Sau khi việc sửa chữa hoàn tất, từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1944, Hatakaze hộ tống các đoàn tàu vận tải từ Yokosuka đi đến quần đảo Bonin. Trong tháng 12, Hatakaze được điều về Hạm đội 5 Hải quân Đế quốc Nhật Bản, và vào ngày 25 tháng 12 được phân trực tiếp về Hạm đội Liên hợp.

Vào cuối tháng 12 năm 1944, Hatakaze hộ tống một đoàn tàu vận tải từ Moji, Kyūshū đến Cao Hùng thuộc Đài Loan. Trong khi ở lại Cao Hùng vào ngày 15 tháng 1 năm 1945, Hatakaze chịu đựng một cuộc không kích của máy bay xuất phát từ tàu sân bay của Hải quân Hoa Kỳ, và bị đánh chìm ở tọa độ 22°37′B 120°15′Đ / 22,617°B 120,25°Đ / 22.617; 120.250Tọa độ: 22°37′B 120°15′Đ / 22,617°B 120,25°Đ / 22.617; 120.250.

Hatakaze được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 10 tháng 3 năm 1945.[2]

Danh sách thuyền trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Howarth, The Fighting Ships of the Rising Sun
  2. ^ a ă Nishidah, Hiroshi (2002). “Kamikaze class 1st class destroyers”. Materials of the Imperial Japanese Navy. 
  3. ^ Morison. The Rising Sun in the Pacific 1931 - tháng 4 năm 1942.
  4. ^ Dull. A Battle History of the Imperial Japanese Navy
  5. ^ Nevitt, Allyn D. (1997). “IJN Hatakaze: Tabular Record of Movement”. Long Lancers. Combinedfleet.com. 

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

  • Brown, David (1990). Warship Losses of World War Two. Naval Institute Press. ISBN 155750914X. 
  • Dull, Paul S. (1978). A Battle History of the Imperial Japanese Navy, 1941–1945. Naval Institute Press. ISBN 0870210971. 
  • Howarth, Stephen (1983). The Fighting Ships of the Rising Sun: The Drama of the Imperial Japanese Navy, 1895–1945. Atheneum. ISBN 0689114028. 
  • Jentsura, Hansgeorg (1976). Warships of the Imperial Japanese Navy, 1869–1945. US Naval Institute Press. ISBN 087021893X. 
  • Whitley, M. J. (2000). Destroyers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Arms and Armour Press. ISBN 1854095218. 
  • Watts, Anthony J. (1967). Japanese Warships of World War II. Doubleday. OCLC 1344405. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]