Helmuth Karl Bernhard von Moltke

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Helmuth Karl Bernhard Graf von Moltke
Conrad Freyberg Moltke.jpg
Thống chế Helmuth Von Moltke, tranh sơn dầu của Conrad Freyberg 1877 (1877).
Tiểu sử
Biệt danh "Moltke Lớn", "'Người câm lặng vĩ đại" ("Der große Schweiger")
Sinh

26 tháng 10 năm 1800

Parchim, Mecklenburg-Schwerin
Mất

24 tháng 4, 1891 (90 tuổi)

Berlin, Phổ-Đức
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of Denmark.svg Đan Mạch-Na Uy
Ottoman flag.svg Đế quốc Ottoman
 Phổ
 Đế quốc Đức
Năm tại ngũ 18221888
Cấp bậc Thống chế
Tham chiến Trận Nezib,
Chiến tranh Đức-Đan Mạch,
Chiến tranh Áo-Phổ,
Chiến tranh Pháp-Phổ

Bá tước Helmuth Karl Bernhard Graf von Moltke [lưu ý 1] (26 tháng 10 năm 1800 tại Parchim, Mecklenburg-Schwerin24 tháng 4 năm 1891 tại Berlin, Phổ) là một Thống chế của Đế quốc Đức. Trên cương vị Tổng Tham mưu trưởng quân đội PhổĐức trong vòng 30 năm (từ năm 1857 cho đến năm 1887), ông được công nhận rộng rãi là "nhà tổ chức quân sự xuất sắc nhất thế kỷ 19 sau Napoléon".[1]. Vai trò của ông trong lịch sử châu Âu thời kỳ cận-hiện đại đã được thể hiện qua những đóng góp của ông trong việc gầy dựng Bộ Tổng Tham mưu Đức – một cơ cấu chỉ huy được các cường quốc khác áp dụng. Thêm vào đó, với chiến thắng quân sự của mình trong các cuộc chiến tranh thống nhất nước Đức, Moltke đã góp phần hình thành nước Đức như một cường quốc hàng đầu ở châu Âu về mọi mặt, hỗ trợ đắc lực cho những thắng lợi chính trị của Bismarck. Qua đó, ông cùng vị Thủ tướng gốc địa chủ quý tộc đã hình thành một đội ngũ chính trị - quân sự then chốt thế kỷ 19. Ông thường được biết đến là Moltke Lớn để phân biệt với người cháu gọi ông bằng bác là Helmuth Johann Ludwig von Moltke - Tổng tham mưu trưởng quân đội Đức khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ.[2][3]

Xuất thân từ một gia đình quý tộc ở Đức, Moltke gia nhập quân đội Đan Mạch sau khi phụ thân ông đến định cư ở đây. Nhưng về sau, ông theo học Học viện Quân sự Phổ vào năm 1822. Khác với hình ảnh thông thường của một nhà quân phiệt Phổ, Moltke thông thạo các môn văn hóa, lịch sử. Ông nhận chức vụ đầu tiên của mình trong Bộ Tổng tham mưu vào năm 1828, rồi vào năm 1855, ông trở thành sĩ quan phụ tá của Vương tử Friedrich. Mặc dù chưa hề chỉ huy một đơn vị tác chiến nào, năng lực và mối quan hệ gần gũi của ông với vương tộc đã khiến cho ông được Wilhelm I bổ nhiệm làm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Phổ năm 1857. Cùng với những người cộng sự thân cận của mình là Thủ tướng Bismarck và Bộ trưởng Bộ Chiến tranh Roon, ông đã thay đổi cơ cấu quân sự Phổ. Ông định hình ra một hệ thống chỉ huy trong đó các sĩ quan Bộ Tổng tham mưu sẽ có thể phối hợp với hoạt động của các đơn vị của mình hầu như là tự động theo bản năng, mà không cần chỉ thị đặc biệt của các tư lệnh cấp cao. Là một rường cột của nền tư tưởng quân sự Phổ - Đức trong suốt khoảng thời gian từ giữa thế kỷ 19 cho đến khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, ông rao giảng và áp dụng ý niệm về một trận đánh quyết định nhằm tiêu diệt lực lượng của kẻ địch và giải quyết chiến tranh. Để làm được như vậy, ông đã tận dụng những phát minh khoa học như đường sắtđiện báo nhằm nhanh chóng vận chuyển các lực lượng quân sự quy mô lớn về điểm tập kết.[3][4][5]

Mặc dù sự khinh suất của các chỉ huy quân sự Phổ đối với bản kế hoạch của Moltke đã khiến cho thắng lợi của cuộc Chiến tranh Đức-Đan Mạch không được nhanh gọn như mong muốn của ông, ông được giao cả quyền bày biện kế hoạch lẫn chỉ đạo chiến dịch trong hai cuộc chống Áo năm 1866chống Pháp các năm 18701871. Với đường lối chiến lược mà Moltke là kiến trúc sư trưởng, quân đội Phổ đã đại phá quân chủ lực của Áo trong trận Königgrätz chỉ 19 ngày sau khi Phổ tuyên chiến với Áo năm 1866, và bắt gọn đạo quân chủ lực của Đế chế Pháp trong trận Sedan 7 tuần 2 ngày sau khi khai chiến (1870). Thắng lợi của người Đức trước Pháp đã mang lại cho ông cấp hàm Thống chế. Sau chiến tranh, ông chỉ đạo Bộ Tổng tham mưu và dành năng lực để củng cố sức mạnh quân sự của Phổ. Bên cạnh đó, trong suốt cuộc đời mình, ông cũng tích cực tham gia chính trị. Sau khi ông từ trần, những người kế tục ông đã không sớm lưu ý đến những lời cảnh báo của ông về một cuộc chiến tranh lan rộng châu Âu. Dù sao, sự uyên bác và những canh tân của Moltke đã góp phần duy trì sự ổn định của nước Đức suốt hơn một nửa thế kỷ.[3][6][7][8]

Đầu đời[sửa | sửa mã nguồn]

Helmuth von Moltke chào đời tại thị trấn Parchim, Mecklenburg-Schwerin (bây giờ thuộc bang Mecklenburg-Vorpommern, trong một gia đình quý tộc, là con trai của Friedrich Philipp Victor von Moltke (17681845) và bà Sophie Henriette Paschen, con gái của một thương gia người Lübeck. Ông Friedrich von Moltke làm sĩ quan Trung đoàn Bộ binh số 25 Möllendorf từ năm 1786. Mặc dù ông mô tả những năm tháng phục vụ binh nghiệp của mình là "vô cùng hạnh phúc", Friedrich đã rời quân ngũ vào tháng 9 năm 1796 để cưới Henriette vào tháng 5 năm sau. Sau đó, Friedrich khởi đầu sự nghiệp của mình như một địa chủ nông dân. Ông đã mua một nông trang gần Wittstock, nơi ông sinh sống cùng gia đình mình, đến khi bán nông trang này và dời đến Parchim để sống với người anh, Helmuth, là một sĩ quan quân đội Phổ. Tại đây, người con thứ ba của Friedrich chào đời vào năm 1800 và được đặt theo tên của người bác, Helmuth. Năm 1801, Friedrich lại mua một điền trang ở Gnewitz và cư ngụ với gia đình ở đây cho đến năm 1803, khi ông bán điền trang này và dời đến Lübeck. Năm 1805, Friedrich mua điền trang Augustenhof tại tỉnh Holstein lân cận, nhưng do tình trạng xuống cấp của điền trang này, bà Heinriette và các con ở lại Lübeck đợi Friedrich xây ngôi nhà mới.[9][10]

Gia đình trở nên bần cùng trong cuộc Chiến tranh Liên minh thứ sáu, khi quân Pháp kéo vàn Lübeck, đốt nhà của Friedrich ở thôn quê và cướp phá nhà ông ở thị trấn của Lübeck. Do đó, Helmuth đã sinh trưởng trong hoàn cảnh khó khăn. Lên 9 tuổi, ông vào học nội trú ở Hohenfelde tại Holstein. Hoàn cảnh nghèo nàn của gia đình đã bắt buộc Moltke và các anh là Wilhelm và Friedrich "phải trở thành lính". Cũng chính cảnh sống khó khăn này đã định hình phong cách sống đạm bạc của Moltke – lối sống mà ông vẫn còn giữ ngay cả khi trở thành Thống chế và "vị tướng vĩ đại nhất trong lịch sử Phổ".[11] Năm 1811, nhằm định hướng con mình đến sự nghiệp phục vụ Triều đình và Quân đội Đan Mạch, ông Friedrich gửi Helmuth vào học Trường Thiếu sinh quân tại Copenhagen.[9][12] Moltke từng mô tả ngôi trường quân sự này là "khắt khe, thậm chí khắc nghiệt".[13] Sau khi hoàn tất việc học tập của mình, Moltke được phong cấp hàm Thiếu úy vào ngày 20 tháng 1 năm 1818 và phục vụ trong Trung đoàn Bộ binh Oldenburg ở Rendsburg. Moltke đã tỏ ra là người có tài năng và tham vọng to lớn. Nhận thấy quân đội Phổ sẽ đem lại cơ hội thăng tiến và lương bổng tốt hơn cho mình, sau khi phục vụ quân đội Đan Mạch được ba năm, ông xin và được chấp thuận gia nhập quân đội Phổ. Sau khi vượt qua các bài thi tuyển sĩ quan khó khăn do nhà chiến lược nổi tiếng Gneisenau giám sát, ông trở thành Thiếu úy của Trung đoàn Bộ số 8, đóng đồn tại Frankfurt (Oder).[14][15]

Moltke thông hiểu nghệ thuật quân sự đến mức mà chỉ ngay năm sau, ông đã vượt qua các kỳ kiểm tra chất lượng của Trường Chiến tranh Tổng hợp ở Berlin (Allgemeine Kriegsschule, sau này gọi là Học viện Quân sự PhổKriegsakademie).[14] Tại đây, Moltke được mệnh danh là một "con chuột thư viện", ông học tập rất cần mẫn và giỏi ngoại ngữ (mẹ ông là một nhà ngôn ngữ học tài năng).[15] Nhà lý luận quân sự vĩ đại Karl von Clausewitz làm Hiệu trưởng nhà trường trong thời gian này.[5] Song, Moltke có lẽ chưa hề, hoặc là hiếm khi tiếp xúc với Clausewitz, do công việc của Clausewitz là quản lý chứ không phải giảng dạy. Clausewitz không thể gây ảnh hưởng đáng kể đến các học viên trong trường mặc dù ông rất muốn làm điều đó. Sau ba năm học, Moltke tốt nghiệp Trường Chiến tranh Tổng hợp vào năm 1826 với số điểm đứng đầu lớp.[11][14]

Sự nghiệp ban đầu và sự đam mê văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Helmuth von Moltke Lớn gần Tượng đài Chiến thắng Berlin ở công viên Tiergarten, Berlin

Học xong, Moltke giảng dạy tại một trường thiếu sinh quân ở Frankfurt an der Oder trong vòng một năm.[12] Sau đó, từ năm 1828 cho đến năm 1832, ông phục vụ trong Cơ quan Đo đạc Địa hình dưới sự chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu, tại đây ông thực hiện công việc quan trọng nhất, đồng thời tiến hành nghiên cứu sâu rộng về các chiến dịch quân sự.[15] Để góp phần hoàn tất dự án đo đạc đại quy mô của Tổng tham mưu trưởng Karl von Müffling từ năm 1826 cho đến năm 1829, ông sinh sống với các gia đình địa phương và "kỳ thực đã trở thành thành viên một gia đình quý tộc Schlesien, những người lo ăn diện chải chuốt cho đến trưa và không phải lúc nào cũng nói ra điều họ suy nghĩ. Họ sống trong những dinh thự xinh đẹp nằm trong những khu vườn tuyệt diệu với các mẩu vườn kiểu Pháp và các họa phẩm của các danh họa bậc thầy thời xưa trên tường. Moltke vẽ phác thảo các bá tước và nữ bá tước, làm thơ và gặp gỡ mọi hàng xóm", theo phác họa của giáo sư sử học Jonathan Steinberg.[11] Đến năm 1832, rồi ông được thăng cấp hàm Trung úy trong năm sau.[14] Vào năm 1834, ông được lên chức Đại úy, sớm hơn những người đương thời của ông 4 năm.[15] Trong thời gian này, các cấp trên của ông, trong đó có Vương tử Wilhelm I – bấy giờ là một Trung tướng – đánh giá ông như một sĩ quan tuyệt vời.[12]

Moltke chịu ảnh hưởng sâu sắc từ thân mẫu ông, một người có học thức uyên bác và phong cách thượng lưu.[3] Khó có thể nói hình ảnh của ông là tương xứng với một nhà quân phiệt bảo thủ điển hình của Phổ. Moltke được mệnh danh là "Người Câm lặng",[3] vì – theo các nhà viết tiểu sử ông cho biết – ông là một người kín đáo và ít nói, "câm lặng trong bảy ngôn ngữ". Tuy nhiên, các thành viên vương tộc Phổ nhìn nhận ông là người có tài nói chuyện hấp dẫn.[16]

Nhà biên khảo lịch sử Mỹ Max Boot đã nhận định về của Moltke trong sách War Made New:

Moltke yêu âm nhạc, thi ca, hội họa, khảo cổ và kịch nghệ. Ông biết bảy ngôn ngữ (Đức, Đan Mạch, Anh, Pháp, Ý, Tây Ban NhaThổ Nhĩ Kỳ). Ông là một nghệ sĩ đa tài người đã lấp đầy các cuốn sổ cá nhân bằng những bức họa phong cảnh, chân dung, đồng thời là một tác gia được ưa chuộng... bản tường thuật của ông về các chuyến đi tại Thổ Nhĩ Kỳ, được phát hành sau khi ông trở về Berlin năm 1840 và được minh họa bằng những bức vẽ của chính ông, đã biến ông thành một danh nhân văn học, vai trò mà ông nâng cao bằng việc đội một chiếc mũ khăn Thổ Nhĩ Kỳ và đọc các bài thuyết giảng trước công chúng... Với các quan điểm có phần Công giáo bảo thủ, Moltke không phải là người có tư tưởng tự do.[lưu ý 2] Ông là người có tinh thần dân tộc bảo thủ, người đã kinh hoàng trước những cuộc cách mạng tự do lan truyền ở châu Âu vào năm 1848. Ông có niềm tin vào nhà vua và trật tự của chế độ bảo hoàng cũ.[8]

Trên cương vị là một sĩ quan trẻ, Moltke dành nhiều thời gian với văn chương, với việc nghiên cứu lịch sử và đi đây đi đó. Các khó khăn về tài chính của ông vẫn tiếp diễn trong giai đoạn này, và vào năm 1827, ông cho ra mắt một tiểu thuyết lãng mạn ngắn, Hai người bạn (Zwei Freunde), để kiếm tiền khắc phục khó khăn của mình.[12][17] Lấy bối cảnh từ cuộc Chiến tranh Bảy năm, tác phẩm kể về hai viên sĩ quan Phổ – Ernest và Gustavus cùng yêu một người phụ nữ. Dĩ nhiên, tiểu thuyết không thể sánh bằng một công trình văn học lớn như Nỗi đau của chàng Werther (Goethe), nhưng ở nhiều cấp độ khác nhau, nó cũng mang những nét tương đồng rõ rệt với phong cách văn học phổ biến đương thời: người phụ nữ kia hóa ra là hai người khác nhau, và tình bạn giữa Ernerst và Gustavus được giữ vững. Tác phẩm cũng khắc họa hai sĩ quan quân đội Phổ là đại diện cho hai bản chất đối lập – TeutonLatinh (một đề tài thường thấy trong văn học Đức). Qua tình bạn khắng khít giữa họ, một thông điệp quan trọng mà Moltke gửi đến từ tác phẩm rằng những cái đối lập nhau vẫn có thể hòa hợp với nhau. Tác phẩm cũng cho thấy hai sĩ quan Phổ có cùng tính cách trọng danh dự và cao quý như các kẻ địch người Áo của họ, khiến các sĩ quan Phổ và Áo trở nên giống những người đồng đội bị chính trị chia rẽ hơn là những kẻ thù thực sự. Tiểu thuyết đã khẳng định cái nhìn lãng mạn rõ rệt của Moltke về chiến tranh và đời lính, một quan niệm mà ông không bao giờ rời bỏ ông, theo như lá thư ông gửi bác sĩ Bluntschli cũng tiết lộ thế.[14]

Tính cách thông minh và khiêm tốn của ông đã khiến cho Moltke được hậu đãi trong cung đình và trong xã hội thượng lưu Berlin – nơi có những người hay cổ vũ tri thức nhưng sợ để lộ sự kém hiểu biết của mình.[16] Vào năm 1831, ông viết tiểu luận Hà LanBỉ trong quan hệ chung của mình, từ khi chia rẽ dưới thời Felipe II đến khi tái thống nhất dưới thời Willem I. Năm sau, ông viết Một tư liệu về hoàn cảnh trong nước và tình hình xã hội Ba Lan, một công trình nghiên cứu dựa trên những điều ông đọc được kết hợp với những gì ông tai nghe mắt thấy về cuộc sống và tính cách của người Ba Lan.[12] Hai tác phẩm đã thể hiện sự hiểu biết của ông đối với tình hình chính trị trong thời đại của mình.[14] Vào năm 1832, nhằm kiếm tiền mua một con ngựa cưỡi, ông nhận dịch bộ sử Lịch sử suy tàn và sụp đổ của Đế quốc La Mã (Gibbon) sang tiếng Đức với giá 75 mark. Trong vòng 19 tháng, Moltke đã dịch xong 9 trong 12 tập của bộ sách, song nhà xuất bản đã không thể in ấn bộ sách này và Moltke chỉ nhận được 25 mark – không đủ để ông không thể mua ngựa.[14] Mặt khác, mặc dù dự án này không mang lại khoản thù lao mà ông mong muốn, Moltke về sau đã đề cao vốn kiến thức mà ông có được trong quá trình dịch sách.[17]

Phục vụ quân đội Thổ Nhĩ Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1839, Moltke được phép nghỉ 6 tháng đi các nước Đông Nam Âu. Sau một khoảng thời gian ngắn ở Kostantiniyyekinh đô của Đế quốc Thổ Ottoman, ông được Sultan Mahmud II yêu cầu hỗ trợ canh tân quân đội Thổ. Chính quyền Berlin đã ban lệnh cho ông chấp thuận đề nghị này. Do vậy, Moltke ở lại Thổ trong vòng 4 năm tới;[14] trong thời gian này, ông học tiếng Thổ và khảo sát thành phố Konstantiniyye, các eo biển VosporosDardanéllia. Ông còn đến Wallachia, Bulgaria, Rumelia, và đi nhiều chuyến hành trình ở cả hai bên eo biển Thổ Nhĩ Kỳ.[12] Ông đã cố vấn cho Sultan về nhiều vấn đề quân sự – từ việc xây thành đắp lũy và khai triển pháo binh cho tới việc xây dựng thêm đường thủy và đường bộ. Những lời khuyên của Moltke được người Thổ vui vẻ đón nhận, nhưng đó chỉ là ngoài mặt. Trên thực tế, họ rất ít thực hiện các đề xuất của ông.[14]

Chân dung Thượng tướng Bộ binh Helmuth von Moltke.

Vào năm 1838, khi tướng Hafiz Pasha nhận lệnh trấn áp cuộc "khởi loạn" của tổng đốc Ai Cập thuộc OttomanMuhammad Ali, Moltke được Sultan bổ nhiệm làm cố vấn quân sự – mà thực ra là tham mưu trưởng – của Hafiz Pasha. Moltke đến tổng hành dinh của Hafiz vào tháng 3 năm 1838 và nhận thấy tình hình tồi tệ của quân đội Thổ. Bị trải rộng trên một địa bàn quá rộng lớn, các lực lượng được trang bị và tổ chức kém của Thổ án ngữ tại các cứ điểm phòng thủ mỏng yếu và không được sự yểm trợ đầy đủ của pháo binh. Moltke liền bắt tay vào việc khảo sát địa hình và thăm dò tình trạng của từng đơn vị Thổ. Mặc dù bị sửng sốt trước những gì ông chứng kiến, Moltke đã đệ trình một kế hoạch tác chiến lên viên chỉ huy của mình. Ông quyết định tổ chức phòng ngự, dựa trên tình hình bi đát của quân đội Thổ và cái mà ông gọi là thiên hướng bị động của người Hồi giáo. Ông bài trí một kế hoạch nhằm tập kết một số lực lượng tại một cứ điểm phòng ngự vững chãi ở thành phố Biradschik dọc theo sông Euphrates và trừ bị phần lớn binh lực gần thị trấn Ufra.[14]

Việc chuẩn bị chiến dịch diễn ra khó nhọc trong mùa đông năm 1838 – 1839, khi mà khoảng 30–50% quân lực của Thổ đào ngũ hoặc là đổ bệnh. Tuy vậy, khi mùa xuân đến, quân đội Thổ dai sức mở đường tiến qua những ngọn đèo hiểm trở vẫn còn phủ đầy băng tuyết và hành binh trên những bình nguyên gồ ghề trong mưa gió để đến các vị trí phòng ngự đã được hoạch định của mình. Trong tay Hafix có 30 ngàn quân và 11 khẩu đại bác. Dựa theo đề xuất của Moltke, tướng Thổ triển khai một số binh lực tại một vị trí tiền tiêu gần thành phố biên giới Nezib. Phần còn lại của quân Thổ được bố trí ở khu vực thành phố Biradschik. Moltke còn khuyên tướng Thổ không nên xây cầu bắc qua sông Euphrates vì ông tin rằng binh lính không có đường rút sẽ chiến đấu ngoan cường hơn. Ngày 28 tháng 12, Muhammad Ali huy động 40 ngàn quân và 160 đại bác tràn qua biên giới. Quân Ai Cập hành binh theo đội hình dọc và bị kéo căng trên một mặt trận dài khoảng 129 km. Nắm bắt điều kiện thuận lợi này, Moltke khuyên Hafiz tổ chức tập kích vào đội hình sơ hở của địch, nhưng viên tướng Thổ từ chối. Hai ngày sau, quân Ai Cập vào được các vị trí tấn công của mình và tiến hành thám sát Biradschik. Quân Thổ đã đẩy lùi đối phương và Hafiz tin rằng mình đã thắng trận.[14]

Dù vậy, Moltke vẫn lo lắng. Ông nhận thấy quân Ai Cập đã bắt đầu di chuyển vào vị trí để phát động một cuộc tấn công vào sườn và phía sau thị trấn Nezib. Vì vậy, ông khuyên Hafiz tập trung pháo lực để phòng vệ hai bên sườn quân Thổ. Thế nhưng, dựa trên các điềm xấu, các cố vấn Hồi giáo của Hafiz khuyên ông ta không nên làm điều đó và một lần nữa, tướng Thổ không làm theo yêu cầu của Moltke. Moltke đành từ chức cố vấn quân sự của Hafiz Pasha và lãnh quyền chỉ huy pháo binh Thổ Nhĩ Kỳ[14]. Vào ngày 24 tháng 6 năm 1839, quân Ai Cập đánh tan tác quân Thổ trong trận Nezib.[18] Dưới sự chỉ huy khéo léo của Moltke, pháo binh Thổ thành công hơn đôi chút so với các lực lượng khác trong trận đánh ngắn ngủi này và trở thành lực lượng cuối cùng rút khỏi trận địa.[19] Sau thảm bại của quân đội Thổ, Moltke phải qua nhiều khó khăn mới về đến biển Đen, rồi từ đây ông về Konstantiniyye. Sau khi được tin người bảo trợ của mình là Sultan Mahmud II đã băng hà,[12] Moltke trở về Berlin vào tháng 12 năm 1838 trong tình trạng suy sụp sức khỏe và tinh thần. Nhưng, trước sự ngỡ ngàng của ông, Moltke được chào đón như một anh hùng và được Quốc vương trao tặng huân chương Thập tự Xanh cao quý nhất của quân đội Phổ.[11][14]

Sau này, Moltke đã xuất bản một số bức thư mà ông viết cho gia đình ông trong thời gian ở Thổ thành tuyển tập Những lá thư về các tình hình và sự kiện ở Thổ Nhĩ Kỳ trong những năm 1835 đến 1839 (Briefe über die Zustände und Begebenheiten in der Türkei 1835–39, 1841). Được đón nhận rộng rãi trong thời gian đó, tuyển tập được ca ngợi vì văn phong súc tích và cách miêu tả hấp dẫn về một đế quốc xa xôi.[12][20]

Tiếp tục phục vụ quân đội Phổ[sửa | sửa mã nguồn]

Vài tháng sau khi về nước, Moltke được bổ nhiệm vào bộ tham mưu của Quân đoàn IV, án ngữ tại Berlin, vào năm 1840. Năm sau, ông gặp một cô gái người Anh, Maria Bertha Helena Burt, con ghẻ của em gái Moltke – bà Auguste. Maria Burt là con gái của ông John Heyliger Burt, chồng bà Auguste, với người vợ đã quá cố của ông này. Maria đã mồ côi mẹ từ khi 5 tuổi và đã được Auguste nuôi nấng từ khi 8 tuổi.[21] Khi ấy Moltke đã 41 tuổi trong khi Burt mới 16 tuổi, và hai người cưới nhau vào ngày 20 tháng 4 năm 1842. Đây cũng là ngày Moltke được lên cấp hàm Thiếu tá.[14][22] Moltke và Burt chung sống hạnh phúc với nhau mặc dù họ không có một mụn con nào.[12]

Trong thời gian này, Moltke đã xuất bản các bản đồ Konstantiniyye mà ông vẽ, và, cùng với các nhà du hành người Đức khác, ông cho ra mắt một bản đồ mới về Tiểu Á và một hồi ký về nền địa lý Thổ Nhĩ Kỳ.[12] Trong thời gian ở Berlin, ông bị lôi cuốn trước sự phát triển của đường sắt và trở thành một trong những giám đốc đầu tiên của tuyến đường sắt Hamburg-Berlin. Năm 1843, ông cho ra mắt một bài phê bình mang tên Những nguyên do nào sẽ quyết định sự lựa chọn phương hướng của đường sắt?", trong đó ông khẳng định một trong những mục tiêu hàng đầu của việc xây dựng đường sắt phải là để phục vụ quân sự.[14] Đến năm 1845, ông lại xuất bản công trình Chiến dịch Nga-Thổ 1828–29 (Der Russisch-türkische Feldzug 1828-1829...). Đây được các chuyên gia đánh giá là một trong những tuyệt tác về phê bình và lịch sử quân sự. Cùng năm đó, ông được ủy nhiệm làm trợ lý cá nhân cho Thân vương Heinrich của Phổ, một người Công giáo đang sống ở Roma. Moltke và vợ mình rất yêu thích cuộc sống ở Roma. Tại đây, Moltke dành thời gian để tiến hành một cuộc khảo sát thành phố, và kết quả của cuộc khảo sát này là một tấm bản đồ Roma được xuất bản ở Berlin vào năm 1852. Sau khi Thân vương Heinrich qua đời năm 1849[12], Moltke trở về Berlin và phục vụ Bộ Tham mưu Quân đoàn VIII tại Koblenz. Đến năm 1848, sau một thời gian ngắn trở lại Bộ Tổng tham mưu, ông đảm nhận chức Tham mưu trưởng Quân đoàn IV ở Magdeburg và ở lại đây trong vòng bảy năm. Ông được lên chức Thượng tá vào năm 1850 rồi Đại tá vào năm 1851.[12][14]

Vào năm 1855, Moltke lãnh chức sĩ quan phụ tá thứ nhất của Thân vương Friedrich Wilhelm (sau này là Đức hoàng Friedrich III[14]. Theo sử gia Jonathan Steinberg, đây được xem là cuộc bổ nhiệm quan trọng nhất đối với ông trong thời gian này. Cuộc bổ nhiệm đã mang lại cho ông mối quan hệ quen biết với Thái đệ Wilhelm, cha của Friedrich và là Hoàng đế Wilhelm I về sau này. Giữa Wilhelm và Moltke có nhiều nét tương đồng với nhau: "Moltke và Vua Wilhelm cùng là một dạng người: tiết kiệm và chuộng sự đơn giản, ôn hòa và khiêm tốn. Cả hai đều ghi chú trên những chỗ chưa viết của thư từ và không thích thay những bộ quần áo cũ bằng những bộ mới".[11] Moltke từng tháp tùng Vương tử Friedrich đến nước Anh (để tham dự lễ cưới của Vương tử vào năm 1855), đến Paris và đến Sankt-Peterburg để tham dự lễ đăng quang của Nga hoàng Aleksandr II.[14]

Nhìn chung, các chức vụ mà Moltke trải qua trong thời gian này đem lại cho ông mối liên hệ thường nhật và mật thiết với ba vị vương gia: Friedrich Karl – cháu trai vua Friedrich Wilhelm IV, Heinrich – em trai nhà vua, và Friedrich Wilhelm – một cháu trai khác của nhà vua. Theo Archen Bucholz, "Moltke cộng tác tốt với các vương thân. Đó đương nhiên là một chìa khóa dẫn đến thành công của ông".[11]

Tổng tham mưu trưởng quân đội Phổ[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 10 năm 1857, Tổng tham mưu trưởng Phổ Karl von Reyher tạ thế.[11] Đến ngày 23 tháng 10 năm ấy, khi vua Friedrich Wilhelm IV lâm bạo bệnh và không thể gượng dậy nổi, Thái đệ Wilhelm đứng ra chấp chính. Sáu ngày sau, Wilhelm chỉ định Moltke làm Tổng tham mưu trưởng mới của quân đội Phổ.[12]

Phụ chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chú ý đến tên gọi của ông: Graf là một tước hiệu, tương đương với Bá tước, chứ không phải là một tên riêng hoặc tên lót. Trước năm 1919, tước hiệu nằm ở phía trước tên riêng. Tước hiệu cũ của những người còn sống sau năm 1919 là thành phần thuộc tên họ, do đó nằm phía sau tên Thánh và không thể được dịch. Tước vị tương đương với Nữ Bá tướcGräfin. Chữ lót von trong tên họ cũng là phụ chú cho nguồn gốc quý tộc.
  2. ^ Moltke là tín hữu Kháng cách

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Christian Wolmar, Engines of War: How Wars Were Won and Lost on the Railways, trang 66
  2. ^ Huy Lê (10 tháng 12 năm 2012). “Huyền thoại về tư lệnh “thép” nước Phổ - Kỳ 1: Sự nổi lên của Bộ Tổng Tham mưu”. Báo Tin Tức. 
  3. ^ a ă â b c Robert Cowley, Geoffrey Parker, The Reader's Companion to Military History, các trang 306-307.
  4. ^ Peter Paret, Felix Gilbert, Makers of modern strategy: from Machiavelli to the nuclear age, trang 296
  5. ^ a ă Gérard Chaliand, The art of war in world history: from antiquity to the nuclear age, trang 767
  6. ^ Spencer C. Tucker (biên tập), A Global Chronology of Conflict: From the Ancient World to the Modern Middle East: From the Ancient World to the Modern Middle East, trang 1732
  7. ^ Bradley A. Fiske, The Navy as a Fighting Machine, trang 139
  8. ^ a ă Max Boot, War Made New: Weapons, Warriors, and the Making of the Modern World
  9. ^ a ă Otto Friedrich, Blood and Iron: From Bismarck to Hitler the Von Moltke Family's Impact on German History, trang 23
  10. ^ Moltke, Helmuth Graf von - Allgemeine Deutsche Biographie
  11. ^ a ă â b c d đ Jonathan Steinberg, Bismarck: A Life, các trang 135-137.
  12. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Moltke, Helmuth Carl Bernhard, Từ điển Bách khoa Anh Quốc phiên bản thứ 11.
  13. ^ Max Boot, War Made New: Weapons, Warriors, and the Making of the Modern World
  14. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô David T. Zabecki, Chief of Staff: Napoleonic wars to World War I, các trang 91-95.
  15. ^ a ă â b Andrew Roberts (ed), Great Commanders of the Modern World: 1866-1975
  16. ^ a ă Daniel Coetzee, Lee W. Eysturlid (biên tập), Philosophers of War: The Evolution of History's Greatest Military Thinkers [2 Volumes]: The Evolution of History's Greatest Military Thinkers, trang 45
  17. ^ a ă Lt. Col. Lanning, The Military 100, trang 151
  18. ^ Spencer C. Tucker (biên tập), A Global Chronology of Conflict: From the Ancient World to the Modern Middle East [6 volumes]: From the Ancient World to the Modern Middle East (biên tập), trang 1166
  19. ^ Andrew James McGregor, A Military History of Modern Egypt: From the Ottoman Conquest to the Ramadan War, trang 116
  20. ^ Otto Friedrich, Blood and Iron: From Bismarck to Hitler the Von Moltke Family's Impact on German History, trang 78
  21. ^ Helmuth Graf von Moltke (1892). Moltke: His Life and Character: Sketched in Journals, Letters, Memoirs, a Novel, and Autobiographical Notes. Harper & Brothers. tr. 139. 
  22. ^ The Westminster Review, Tập 139, trang 35

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Letters of Field-Marshal Count Helmuth von Moltke to his mother and his brothers: Translated by Clara Bell and Henry W. Fischer (1891)
  • Letters of Field-Marshal Count Helmuth von Moltke to his mother and his brothers (1892)
  • Essays, speeches, and memoirs of Field Marshal Count Helmuth von Moltke (1893)
  • Bucholz, Arden. Moltke and the German Wars, 1864-1871, Palgrave Macmillan, 2001. ISBN 0-333-68757-4
  • Friedrich, Otto. Blood and Iron: From Bismarck to Hitler the Von Moltke Family's Impact on German History, 1st ed. New York: HarperCollins, 1995. ISBN 0-06-092767-4
  • Macksey, Kenneth. From Triumph to Disaster: The Fatal Flaws of German Generalship from Moltke to Guderian. Mechanicsburg, Pennsylvania: Stackpole Books, 1996. ISBN 1-85367-244-0
  • Wilkinson, Spenser (ed.). Moltke's Military Correspondence, 1870-71, Ashgate Publishing, 1991. ISBN 0-7512-0040-9
  • Martin van Creveld. The Art of War: War and Military Thought, Cassell&Co, London, 2000. ISBN 0-304-35264-0 (p. 109)
  • Martin van Creveld. Supplying War: Logistics from Wallenstein to Patton, Cambridge University Press, Cambridge, 1977. ISBN 0-521-29793-1
  • Rothenburg, Gunther E. "Moltke, Schlieffen and the Doctrine of Strategic Envelopment," in Peter Paret, ed., Makers of Modern Strategy from Machiavelli to the Nuclear Age. Princeton University Press, 1986.
  • Holborn, Hajo. "The Prusso-German School: M6/23/2004oltke and the Rise of the General Staff," in Peter Paret, ed., Makers of Modern Strategy from Machiavelli to the Nuclear Age. Princeton University Press, 1986.
  • Delbrück, Hans. "Moltke," in Delbrück's Modern Military History. University of Nebraska Press, 1997.
  • Bucholz, Arden. Moltke and the German Wars, 1864-1871. St. Martin's Press, 2000.
  • Bucholz, Arden. Moltke, Schlieffen and Prussian War Planning. Berg Publishers, 1991.
  • Hughes, Daniel. Moltke on the Art of War. Novato, California: Presidio, 1993.
  • Kessel, Eberhard. Moltke. Stuttgart: K.F. Koehler, 1957.
  • Kessel, Eberhard. Moltkes erster Feldzug. Berlin: E.S. Mittler, 1939.
  • Kessel, Eberhard. Helmuth von Moltke Briefe. 2d. ed. Deutsche Verlags Anstalt, 1960.
  • Kessel, Eberhard. Moltke Gespraeche. Hanseatic Verlasanstalt, 1940.
  • Dressler, Friedrich. Moltke in His Home. John Murray, 1907.
  • Craig, Gordon. The Battle of Koeniggraetz. Lippincott, 1964.
  • Howard, Michael. The Franco-Prussan War. Collier Books, 1969.
  • Wawro, Geoffrey. The Austro-Prussian War. Cambridge University Press, 1996.
  • Peschke, Rudolf. Moltkes Stellung zur Politik bis zum Jahr 1857. Max Schmeresow, 1912.
  • Foerster, Rolland G. Generalfeldmarschall von Moltke: Bedeutuing und Wirkung. R. Oldenbourg, 1991.
  • Grosser Generalstab, ed. Moltkes Gesammelte Schriften und Denkwürdigkeiten. 8 vols. E.S. Mittler, 1892.
  • Grosser Generalstab, ed. Moltkes Militaerische Werke. 13 vols. E.S. Mittler, 1892-1912.
  • Herre, Franz. Moltke: Der Mann und sein Jahrhundert. 2d ed. Deutsche Verlags Anstalt, 1984.
  • Horst, Max. Moltke, Leben und Werk in Selbstzeugnissen. Leipzig: Dieterich'schen Verlagsbuchhandlung, 1930.
  • Jaehns, Max. Feldmarschall Moltke. 2 vols. Ernst Hoffmann, 1900.
  • Coumbe, Arthur T. "Operational Control in the Franco-Prussian War," Parameters, Vol. 21, No. 2 (Summer 1991), pp. 295–307.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vụ quân sự
Tiền nhiệm:
Karl von Reyher
Tổng tham mưu trưởng Phổ-Đức
1857–1888
Kế nhiệm:
Bá tước Waldersee