Helmuth Karl Bernhard von Moltke

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Helmuth Karl Bernhard Graf von Moltke
26 tháng 10, 180024 tháng 4, 1891
GFM Moltke.jpg
Bá tước Von Moltke, qua nét vẽ của nhà họa sĩ Franz von Lenbach.
Tiểu sử
Biệt danh "Moltke Già", "'Người câm lặng vĩ đại" ("Der große Schweiger")
Nơi sinh Parchim, Mecklenburg-Schwerin
Nơi mất Berlin
Binh nghiệp
Phục vụ Đan Mạch-Na Uy, sau đó là Phổ (sau là Đức)
Năm tại ngũ 18221888
Cấp bậc Thống chế
Tham chiến Chiến tranh Áo-Phổ,
Chiến tranh Pháp-Phổ

Helmuth Karl Bernhard Graf von Moltke (sinh 26 tháng 10, 1800 - mất 24 tháng 4, 1891) là một Thống chế của Đế chế Đức. Là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Phổ - Đức trong 30 năm (từ năm 1857 cho đến năm 1887[1]), ông được công nhận rộng rãi là một trong những nhà chiến lược tài ba nhất nửa sau thế kỉ 19, với ảnh hưởng to lớn đến lực lượng Quân đội Đức. Là một học trò xuất sắc của nhà lý luận quân sự đại tài Karl von Clausewitz, ông đã viết vài tác phẩm quân sự. [2] Ông thường được biết đến là Moltke Lớn để phân biệt với người cháu của ông là Helmuth Johann Ludwig von Moltke - Tổng tham mưu trưởng Quân đội khi cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ.

Xuất thân từ tầng lớp quý tộc Đức, ban đầu ông phục vụ cho Quân đội Đan Mạch, sau đó bắt đầu phụng sự cho Quân đội Phổ kể từ năm 1822. Trong các năm 1835 - 1839, ông tham gia trong Quân đội Ottoman. Cho đến năm 1857 thì ông trở thành Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Phổ. Tầm vóc to lớn của ông đối với lịch sử châu Âu cận - hiện đại thể hiện qua công lao của ông trong việc gầy dựng Bộ Tổng Tham mưu Đức cận đại - một cơ cấu được các liệt cường khác áp dụng. Và, ông là nhà sáng tạo tổ chức quân sự kiệt xuất hơn cả sau thời đại Napoléon Bonaparte. Ông cùng với Thủ tướng Otto von Bismarck và Bộ trưởng Bộ Chiến tranh Albrecht von Roon chuyển biến cơ cấu quân sự Phổ.[2] Ông là nhà chiến lược chủ yếu làm nên đại thắng của nước Phổ trong các cuộc chiến tranh với Đế quốc Áo vào năm 1866 và với Đế chế Pháp trong các năm 1870 - 1871, qua đó ông đóng vai trò chủ chốt trong việc tái cấu trúc bản đồ chính trị châu Âu, hỗ trợ đắc lực cho thành công về chính trị của Bismarck. [3]

Ông được coi là một "Bismarck" trên chiến trường những cuộc chiến tranh thống nhất nước Đức này, với tầng lớp quý tộc Junker là đội ngũ chính trị - quân sự quan trọng nhất trong thế kỷ 19.[3] Được coi là một danh tướng vĩ đại, ông làm chủ nền tư tưởng quân sự Phổ - Đức trong suốt khoảng thời gian từ giữa thế kỷ 19 cho đến khi cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Ông rao giảng và áp dụng kiểu chiến tranh tấn công mà theo đó phải giành lấy thế chủ động, rồi đánh một trận quyết định mà hoàn toàn tiêu diệt kẻ thù.[1] Ông cũng khuyến khích việc áp dụng hỏa xa trong chiến tranh.[2] Bên cạnh đó, ông cũng tích cực tham gia trong tình hình chính trị. [3]

[sửa] Đầu đời

Moltke chào đời tại thị trấn Parchim, Mecklenburg-Schwerin, là con của viên Trung tướng Đan Mạch Friedrich Philipp Victor von Moltke (17681845). Vào năm 1805, thân phụ của ông định cư tại Holstein, nhưng đồng thời trở nên nghèo khổ do quân xâm lược Pháp đốt rụi nhà thân phụ ông tại làng và cướp phá nhà thân phụ ông tại thị trấn ở Lübeck, tại đây Moltke và mẹ sinh sống trong cuộc Chiến tranh chống Pháp của Liên minh thứ tư. Moltke cứ thế mà khôn lớn trong hoàn cảnh khó khăn. Lên 9 tuổi, ông được gửi đến Hohenfelde tại Holstein với tư cách là một học sinh nội trú, và năm lên 11 ông nhập học Trường Thiếu Sinh Quân tại kinh thành Copenhagen - giành cho những người có nguyện vọng phụng sự Triều đình và Quân đội Đan Mạch. Vào năm 1818, ông trở thành lính hầu của Quốc vương Đan Mạch và là Thiếu úy trong một Trung đoàn Bộ binh Đan Mạch.

Năm 21 tuổi, mặc dù hãy còn thiếu kinh nghiệm, Moltke quyết tâm gia nhập lực lượng Quân đội Phổ. Vào năm 1822, ông trở thành Thiếu úy của Trung đoàn Bộ binh thứ 8 đóng quân tại Frankfurt (Oder). Lên 23 tuổi, ông được phép nhập học trong Trường Quân sự Berlin (sau này gọi là Học viện Quân sự Phổ), khi ấy có nhà lý luận quân sự vĩ đại Karl von Clausewitz làm Hiệu trưởng, [2] và, ông học trong suốt 3 năm liền rồi tốt nghiệp vào năm 1826.

[sửa] Chú thích

  1. ^ a b Peter Paret, Felix Gilbert, Makers of modern strategy: from Machiavelli to the nuclear age, trang 296
  2. ^ a b c d Gérard Chaliand, The art of war in world history: from antiquity to the nuclear age, trang 767
  3. ^ a b c Robert Cowley, Geoffrey Parker, The Reader's Companion to Military History, các trang 306-307.

[sửa] Liên kết ngoài

Công cụ cá nhân
Không gian tên

Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra
Ngôn ngữ khác