Hiến Khang Vương
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Thông tin trong bài này không thể kiểm chứng được do không được chú giải từ bất kỳ nguồn tham khảo nào. Xin bạn hãy cải thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn uy tín. Nếu bài được dịch từ Wikipedia ngôn ngữ khác thì hãy chuyển nguồn tham khảo từ phiên bản đó cho bài này. |
| Hiến Khang Vương | |
|---|---|
Lăng Hiến Khang Vương tại Gyeongju |
|
| Tên Triều Tiên | |
| Hangul |
헌강왕
|
| Hanja (Hán tự) |
憲康王
|
| Hán-Việt | Hiến Khang Vương |
| McCune-Reischauer | Hŏn'gang wang |
| Romaja quốc ngữ | Heon-gang wang |
Hiến Khang Vương (mất 886, trị vì 875–886) là quốc vương thứ 49 của Tân La. Theo Tam quốc sử ký (Samguk Sagi), ông nổi trội trên bình diện đối nội. Hiến Khang là con trai cả của Cảnh Văn Vương; mẫu thân của ông là Văn Ý (Munui) vương hậu. Ông không có con thừa kế chính thức, song đã có một người con ngoài giá thú (về sau là Hiếu Cung Vương). Tên húy của ông là Kim Trinh (金晸, 김정)
Năm 879, Hiến Khang Vương phải đối mặt với cuộc nổi dậy của một triều thần cấp cao, ilgilchan Sin Hong. Năm 886, ông tìm cách xoa dịu sự bất mãn trong nước bằng một chiếu chỉ đại xá.
Hiến Khang được chôn cất tại đông bắc của "Bồ Đề tự" (Borisa) ở Gyeongju.
Xem thêm [sửa]
Tham khảo [sửa]
|
||||||||||||||