Hiện đại hóa Quân đội Nhân dân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hiện đại hóa trong Quân đội Nhân dân Việt Nam là một trong những mục tiêu theo đuổi của Chính phủ Việt Nam trong thời đại mới. Quá trình hiện đại hóa quân đội bao gồm các mảng đổi mới phương thức huấn luyện, tăng cường quản lý chặt chẽ, mua sắm và chế tạo các loại vũ khí trang bị mới...

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt Chiến tranh Việt Nam (1965-1975) và Chiến tranh biên giới Tây Nam (1979-1989), Việt Nam hầu như dựa hoàn toàn vào các hệ thống vũ khí trang bị có nguồn gốc từ Liên bang Xô viết. Kể từ sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, đã kết thúc giai đoạn "bán rẻ như cho" và Việt Nam bắt đầu phải thanh toán tiền mua vũ khí trang bị bằng ngoại tệ mạnh hoặc bằng hàng đổi hàng.

Từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, Việt Nam đã bắt đầu tiến trình hiện đại hóa quân đội. Sau sự kiện khủng bố 11/9, nhất là từ khi Mỹ phát động cuộc chiến tranh cục bộ kỹ thuật cao đối với Irắc, Việt Nam ý thức rằng hình thái chiến tranh trong tương lai sẽ có thay đổi to lớn, vũ khí trang bị truyền thống và dạng thức tác chiến truyền thống sẽ không thể thích hợp với yêu cầu chiến tranh trong tương lai.

Mục tiêu tổng thể trong xây dựng quân đội của Việt Nam là "Cách mạng hóa, chính quy hóa, tinh nhuệ hóa và từng bước hiện đại hóa". Vì thế Việt Nam đã mở rộng chi phí quốc phòng, từ chỗ chú trọng xây dựng quy mô chuyển sang xây dựng chất lượng quân đội, chú trọng nguyên tắc phát triển phối hợp giữa các quân binh chủng và ưu tiên phát triển hải quân - không quân, đồng thời tiếp tục tăng cường xây dựng lực lượng dự bị như dân quân tự vệ.[1]

Bước vào thế kỷ mới, Việt Nam đặc biệt chú trọng ảnh hưởng của tranh chấp chủ quyền và lợi ích biển ở Biển Đông đối với an ninh quốc gia. Sau Đại hội lần thứ 9 Đảng Cộng sản Việt Nam, Việt Nam bắt đầu thực hiện phương châm chiến lược "thu hẹp lục quân mở rộng hải quân", coi việc bảo vệ lãnh thổ trên biển và tài nguyên biển là trọng tâm của chiến lược quân sự mới, tăng cường một cách có trọng điểm khu vực ven biển miền Trung Nam Bộ và bố trí binh lực ở các đảo mà Việt Nam đã chiếm, làm nổi bật nhiệm vụ xây dựng hải quân và không quân.

Năm 2001, Việt Nam đã cho ra đời "Kế hoạch hiện đại hóa lực lượng vũ trang thế kỷ mới", đề xuất thay đổi toàn diện vũ khí trang thiết bị của ba quân chủng lục quân, hải quân và không quân, trọng tâm là ưu tiên đảm bảo hiện đại hóa phòng không không quân và hải quân, đồng thời lắp đặt các loại trang thiết bị cảnh báo, trinh sát, chỉ huy, cơ động và đảm bảo cung cấp hậu cần. Sách Trắng Quốc phòng năm 2009 của Việt Nam cũng nhiều lần nhấn mạnh phải xây dựng quân đội hiện đại hóa có trang bị vũ khí tiên tiến, trong khi tự nghiên cứu chế tạo, liên hợp sản xuất trang thiết bị, đồng thời mua sắm khối lượng lớn vũ khí trang thiết bị tiên tiến của nước ngoài, nâng cao tính năng vũ khí trang thiết bị của bản thân, trong đó mua sắm vũ khí trang thiết bị cho hải quân và phòng không không quân đã chiếm tỉ lệ rất lớn.

Chỉ đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam đã đặt việc phát triển kinh tế lên hàng đầu và chỉ duy trì mức tăng chi tiêu quốc phòng một cách nhỏ giọt. Việt Nam không tiến hành các đợt mua sắm hay nâng cấp vũ khí lớn. Phải tới tận cuối những năm 1990, Chính phủ Việt Nam mới công bố một loạt các chương trình mua sắm các hệ thống vũ khí trang bị hiện đại. Theo đó, Việt Nam chậm rãi phát triển hải quânkhông quân để kiểm soát các vùng nước nông và vùng đặc quyền kinh tế.

Hầu hết các chương trình mua sắm quốc phòng chủ yếu được thực hiện để đảm bảo ưu tiên này. Ví dụ, Việt Nam đã mua một số máy bay chiến đấu và tàu chiến có khả năng tác chiến khá cao. Việt Nam cũng lên kế hoạch phát triển nền công nghiệp quốc phòng với ưu tiên cho hải quân, có sự kết hợp với các đồng minh XHCN cũ và Ấn Độ.

Trong một lần đến thăm Mỹ trước đây, bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh từng yêu cầu Mỹ gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam. Ngày 24 tháng 8 năm 2011, thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Jim Webb sau buổi họp báo ở Hà Nội cho hay Mỹ đang cân nhắc có thể gỡ lệnh cấm vận vũ khí kỹ thuật quân sự cho Việt Nam[2]. Trong cuộc viếng thăm của bộ trưởng quốc phòng Mỹ Leon Panetta tới Vịnh Cam Ranh của Việt Nam vào tháng 6 năm 2012, ông Phùng Quang Thanh và ông Leon Panetta cũng đã thảo luận về vấn đề gỡ bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương của Hoa Kỳ cho Việt Nam. Bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh cho biết thì nếu Mỹ gỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí thì Việt Nam sẽ mua các thiết bị nâng cấp, bảo quản cho các vũ khí mà Quân đội Nhân dân Việt Nam thu được sau chiến tranh và sau đó sẽ nghĩ tới các vũ khí phù hợp với yêu cầu hiện đại hóa Quân đội Việt Nam có giá cả cạnh tranh [3]. Đây là cơ hội lớn cho Việt Nam vì vũ khí của Mỹ được cho có công nghệ cực kỳ tối tân và hiện nay họ chỉ có thể mua trực thăng của phương tây nhằm phục vụ cho việc cứu hộ cứu nạn. Việt Nam còn muốn nâng cấp xe thiết giáp M-113 và trực thăng UH-1 - những vũ khí mà Việt Nam thu lại sau chiến tranh còn khả năng hoạt động rất tốt.

Khởi đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1994, Việt Nam và Nga đã thống nhất một hợp đồng mua sắm vũ khí lớn, thắt chặt hợp tác quốc phòng theo một Hiệp định được ký tháng 10 năm 1998 và công bố trở thành "Đối tác chiến lược" năm 2003. Thỏa thuận năm 1998 đã thiết lập một khung chương trình, theo đó Nga sẽ tiếp tục hỗ trợ và bán vũ khí trang bị cho Việt Nam. Quan hệ quốc phòng giữa 2 nước được đưa lên một tầm cao mới nhân dịp Tổng thống Nga Putin sang thăm Việt Nam trong tháng 2/tháng 3 năm 2001. Trong chuyến thăm này, 2 bên đã ký Hiệp định thắt chặt quan hệ quốc phòng đáp ứng được yêu cầu an ninh quốc phòng của Việt Nam. Gần đây nhất, tháng 9 năm 2008, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nga đã tuyên bố Việt Nam là đối tác chiến lược của Nga ở Đông Nam Á.

Nga tiếp tục là nguồn cung cấp các loại vũ khí trang bị tiên tiến của Việt Nam, dường như quan hệ này sẽ không thay đổi ít nhất là trong ngắn hạn. Tháng 9 năm 2008, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov đã gặp người đồng nhiệm Phùng Quang Thanh của Việt Nam và tuyên bố rằng Nga đã sẵn sàng cung cấp cho Việt Nam các loại vũ khí trang bị mới và nâng cấp các vũ khí hiện có. Lúc đó, giới thạo tin của Nga đã tiết lộ tiềm năng về các hợp đồng mua bán máy bay chiến đấu, hệ thống phòng không (bao gồm cả radar tầm xa), tàu chiến (tàu hộ vệ và tuần tiễu tên lửa) và các trang thiết bị cũng như hiện đại hóa các đơn vị tăng - thiết giáp của Việt Nam. Các hợp đồng này có thể đã được cụ thể hóa nhân chuyến thăm chính thức của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tới Nga tháng 10 năm 2008. Trong chuyến thăm này, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đã tuyên bố rằng Việt Nam quan tâm tới việc tăng cường hợp tác kỹ thuật quốc phòng với Nga. Dù vậy, các hợp đồng mua sắm vẫn sẽ chỉ dừng ở mức độ vừa phải do ngân sách eo hẹp. Ngoài ra, Việt Nam cũng mở rộng và đa dạng hóa các nguồn cung cấp vũ khí trang bị từ các bạn hàng truyền thống từ thời Xô-viết như Ấn Độ, Ukraina, Cộng hòa SécBa Lan...

Lục quân[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam đã gia nhập thị trường xe bọc thép chở quânxe tăng chiến đấu chủ lực.

Cải tiến-Khôi phục trang bị cũ[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 năm 2001, Việt Nam đã tiến hành sửa chữa tổng thể và nâng cấp nhỏ khoảng 50 xe bọc thép M-113. Việc nâng cấp và sửa chữa được thực hiện bởi Nhà máy Z751thành phố Hồ Chí Minh, sử dụng một số linh kiện mua từ các nguồn thương mại và tận dụng linh kiện thu được từ thời chiến tranh Việt Nam. Trước đó, Việt Nam đã cố gắng kết hợp với Singapore Automotive Engineering (nay là ST Kinetics thuộc ST Engineering), tuy nhiên nỗ lực này đã bị dừng lại do chính sách cầm vận của Mỹ đối với Việt Nam. Các xe bọc thép này được cho là sẽ đưa vào biên chế của một sư đoàn cơ giới ở phía Nam.

Tháng 9 năm 2011, Viện Kỹ thuật Cơ giới, thuộc Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng đã hoàn thiện nâng cấp, cải tiến xe thiết giáp V-100. Động cơ cũ được thay bằng động cơ diezen, gắn thêm camera quan sát đêm, thiết kế lại hệ thống điện. Sau khi nâng cấp, xe V-100 sẽ được đưa vào biên chế bổ sung cho các đơn vị chiến đấu.[4]

Mua sắm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2006, Israel báo cáo với Ủy ban Đăng ký vũ khí thông thường của Liên hiệp quốc (UNROCA) rằng họ đã bán cho Việt Nam 2 xe bọc thép hạng nhẹ (LAV). Hiện nay, một số công ty của Israel thắng thầu và đang tham gia nâng cấp thử nghiệm một số xe tăng T-55 trong tổng số tới 1.100 T-54/55 của Việt Nam. Chương trình của Israel bao gồm nâng cấp giáp, hệ thống nhìn đêm, pháo chính và một hệ thống điều khiển hỏa lực nâng cấp (sản xuất ở Ba Lan).

Tháng 5 năm 2002, Việt NamUkraina đạt được thỏa thuận hợp tác kỹ thuật quân sự kéo dài tới 2005. Theo đó, Ukraina sẽ hỗ trợ chủ yếu để Việt Nam nâng cấp thiết giáp và pháo binh, hợp tác sản xuất vũ khí và sửa chữa, nâng cấp và cung cấp một số lượng lớn các loại vũ khí và trang bị chưa xác định chủng loại.

Tháng 2 năm 2005, Bộ Quốc phòng Phần Lan nhượng lại cho Việt Nam khoảng 70 xe tăng T-54T-55 có từ thời Liên Xô.

Ngoài nâng cấp xe, Bộ quốc phòng Việt Nam đã kí một thoả thuận hợp tác quân sự với Nga, trong đó Nga có nhắc đến xe tăng T-90S huấn luyện. Trước đó, Nga từng có đề nghị bán xe tăng chiến đấu chủ lực T-80 cho Việt Nam nhưng không thành vì ngân sách của Việt Nam không đáp ứng nổi.

Chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Phòng không[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Edward O’Dowd, "Lực lượng phòng không Việt Nam, đặc biệt là ở quanh khu vực đồng bằng sông Hồng, trong những năm 1970, là một trong những lực lượng thiện chiến nhất thế giới". Tuy nhiên, khả năng chiến đấu của cả hệ thống phòng không Việt Nam đã xuống cấp kể từ sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991 và dần dần chúng trở nên lạc hậu. Tình hình này chỉ được cải thiện sau đó một thập kỷ khi Việt Nam phải đối mặt với sự xuống cấp trầm trọng của các loại vũ khí phòng không.

Các báo cáo thường niên tới Ủy ban Đăng ký vũ khí thông thường của Liên hợp quốc đã làm sáng tỏ đôi chút thông tin chi tiết về vấn đề này (xem bảng 6). Ví dụ, trong các năm 2000 và 2004, Nga báo cáo chỉ bán một số lượng rất nhỏ bao gồm lần lượt "8 tên lửa và bệ phóng" và "20 tên lửa và bệ phóng" cho Việt Nam (xem bảng 6). Chủng loại tên lửa không được nêu rõ và có thể là tên lửa không đối không hoặc không đối đất.

Tháng 5 năm 2002, Việt Nam và Ukraina đã ký Hiệp định Hợp tác quân sự đến năm 2005. Theo đó, Ukraina đồng ý hỗ trợ Việt Nam trong việc nâng cấp các hệ thống phòng không, bao gồm radar, thông tin liên lạc và tên lửa đất đối không. Tuy nhiên, trong gia đoạn này không thấy Ukraina đề cập trong các báo cáo thường niên gửi tới UNROCA là đã bán bất kỳ hệ thống tên lửa nào cho Việt Nam hay không. Năm 2008, có báo cáo cho rằng Việt Nam đã mua 4 hệ thống radar thụ động Kolchuga có khả năng phát hiện và nhận dạng các mục tiêu trên đất liền, trên biển cho Việt Nam.

Tháng 8 năm 2003, Nga đồng ý bán cho Việt Nam 2 hệ thống tên lửa phòng không S-300PMU1 theo hợp đồng trị giá 200 triệu USD. Cũng trong năm 2005, Việt Nam báo cáo lên UNROCA rằng họ đã nhập 12 xe mang phóng và 62 quả tên lửa S-300 nhưng không đề cập nước chuyển giao. Nga báo cáo lên UNROCA rằng năm đó họ thất bại trong vụ mua bán tên lửa phòng không tầm xa này. Nhưng các nguồn tin công nghiệp lại khẳng định rằng 1 hệ thống S-300PMU1 cùng 12 xe phóng và 62 quả tên lửa đã được giao cho Việt Nam tháng 8 năm 2005. Hệ thống S-300 được đánh giá là một trong những hệ thống tên lửa phòng không mọi tầng cao hiện đại nhất thế giới.

Không quân[sửa | sửa mã nguồn]

Nâng cấp trang bị[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 2000, Ấn Độ và Việt Nam đã ký Hiệp định về Hợp tác quốc phòng, theo đó, Ấn Độ sẽ tiến hành bảo dưỡng và sửa chữa toàn bộ cho các máy bay MiG-21 hiện đang có trong trang bị và hỗ trợ huấn luyện các phi công chiến đấu và kỹ thuật viên của Việt Nam. Tháng 3 năm 2005, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam đã đến thăm Ấn Độ để bản thảo sâu hơn về việc Ấn Độ hỗ trợ bảo dưỡng và sửa chữa các máy bay chiến đấu MiG. Và tháng 10 năm 2006, Ấn Độ đã cung cấp một số phụ tùng dự trữ cho máy bay MiG-21 của Việt Nam.

Cuối năm 1999, cơ quan quản lý vũ khí trang bị Rosoooruzheniye của Nga đã tiến hành đàm phán để nâng cấp những chiếc Su-27Su-30 hiện có của Việt Nam để chúng có thể mang được tên lửa không đối không ngoài tầm nhìn R-77 (AA-12), tên lửa không đối hạm Kh-31 (AS-17) và các loại tên lửa không đối đất Vympel Kh-27 (AS-14) và Kh-59M (AS-18).

Năm 2010, Ấn Độ giúp cho Việt Nam nâng cấp những máy bay MiG-21 cũ của Không quân Việt Nam lên thành MiG-21 Bison cùng các phụ tùng hải quân. Mig-21 Bison là gói nâng cấp hiện đại nhất của Mig-21, và có lẽ đây cũng là gói nâng cấp cuối cùng của loại máy bay huyền thoại này. Những máy bay nâng cấp MiG-21 Bison có hiệu suất tốt và có thể chống lại được những máy bay F-15F-16 của Không quân Hoa Kỳ trong cuộc tập trận chung Ấn Độ-Hoa Kỳ.[5]

Mua sắm vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Những khó khăn về tài chính đã hạn chế khả năng mua sắm một lượng lớn các máy bay chiến đấu đa năng và máy bay tiêm kích ném bom của Việt Nam.

Cuối thập niên 1980, trung đoàn 937 được tiếp nhận những máy bay Su-27SK/UB đầu tiên của Việt Nam. Đây là thế hệ máy bay hiện đại nhất mà Việt Nam có bấy giờ, được mua sắm với giá thị trường. Lần lượt trong những năm tiếp theo, do thiếu kinh phí, Không quân Việt Nam đành tạm hài lòng với khoản nâng cấp, kéo dài tuổi thọ của các máy bay MiG-21Su-22, dù số giờ bay huấn luyện càng lúc càng giảm cũng như số tai nạn do thiết bị cũ tăng lên. Dù vậy, họ vẫn tiếp tục mua sắm các máy bay hiện đại Su-27/30 hiện đại hơn, dù chỉ với số lượng ít và nhỏ giọt.

Trong những năm gần đây, đứng trước sức ép của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, Việt Nam bắt đầu cương quyết hơn trong việc trang bị cho lực lượng không quân của mình nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo. Những hợp đồng trang bị mới nhất cho thấy việc gia tăng trang bị những mẫu máy bay chiến đấu hiện đại như Su-30 hoặc những quan tâm đến mẫu tiêm kích thế hệ mới nhất như MiG-35, cho thấy nỗ lực của Việt Nam trong việc tăng cường sức mạnh không quân của mình.[6][7]

Năm 1996, Không quân nhân dân Việt Nam đã đàm phán mua 2 phi đội máy bay Dassault Mirage 2000 từ Pháp nhưng bị ngăn cản vì lệnh cấm vận quân sự của Hoa Kỳ với Việt Nam.

Trong giai đoạn 1994 tới 2004, Việt Nam mua tổng cộng 12 chiếc máy bay hiện đại của Sukhoi từ Nga, bao gồm:

  • 7 chiếc Su-27SK một người lái,
  • 3 chiếc Su-27UBK huấn luyện, hai người lái và
  • 2 chiếc Su-27PU (phiên bản đầu của Su-30).

Trong các năm từ 1996 đến 1998, Nga đã nâng cấp 32 chiếc máy bay tiêm kích bom Su-22M4 một người lái và 2 chiếc Su-22UM3 huấn luyện, 2 người lái.

Năm 2004, Việt Nam mua từ 4 tới 10 chiếc máy bay tiêm kích bom Su-22M4 từ Cộng hòa Séc, bao gồm cả phụ tùng, đạn dược và nhận 4 máy bay Sukhoi Su-30MK2 từ Nga - đây là loại máy bay hiện đại nhất của Không quân Nhân dân Việt Nam lúc bấy giờ. Sau đó Việt Nam đạt thỏa thuận nâng cấp các máy bay để có thể mang được tên lửa diệt hạm. Các báo cáo trong năm 2005 cho thấy Việt Nam có nhu cầu mua thêm từ 8 tới 10 chiếc máy bay chiến đấu hiện đại mà ưu tiên là Su-27 hoặc Su-30MKK. Tuy nhiên, do khó khăn về tài chính nên dẫn tới việc Việt Nam phải mua 40 chiếc Su-22M4 đã qua sử dụng của Ba Lan thay cho mua máy bay mới.

Trong các báo cáo thường niên gửi tới UNROCA, Việt Nam đã thừa nhận chỉ mua có 12 chiếc máy bay chiến đấu trong giai đoạn 1992-2006. Điều này có thể hiểu, các máy bay chưa được chuyển giao vì còn đang phải nâng cấp ở nước ngoài.

Tuy nhiên, trong cùng giai đoạn, Ukraina báo cáo đã giao 6 chiếc MiG-21UM (1996), 10 chiếc L-39 (2002 và 2003) và 3 chiếc Su-22 (2005) cho Việt Nam.

Năm 2005, Cộng hòa Séc báo cáo đã bán chỉ 5 chiếc Su-22UM3 cho Việt Nam.

Trong tháng 9 và 10 năm 2008, trong chuyến thăm được đánh giá là thành công của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cùng Chủ tịch nước tới Nga, Việt Nam đã bày tỏ ý định mua tới 20 chiếc Su-30 và có thể là cả MiG-29. Việt Nam đã đặt mua 8 chiếc Su-30MK2 từ công ty Rosoboronexport, giao hàng dự kiến trong 2010-2011. Tháng 1/2009, Rosoboronoexport đã ký hợp đồng cung cấp cho Việt Nam 8 máy bay tiêm kích Su-30MK2 từ năm 2010 trị giá hơn 500 triệu USD (chưa kể vũ khí). Ông Aleksandr Fomin cho biết: "Chúng tôi sẽ bắt đầu các hoạt động tư vấn thực tế vào mùa thu này về khả năng cung cấp cho Việt Nam lô tiếp theo các máy bay này", nhưng không nói rõ số lượng. Tuy nhiên, một nguồn tin tại Rosoboronoexport nói đến con số 8-12 chiếc Su-30MK2.

Ngày 19/6/2009, tại triển lãm hàng không Le Bourget, Pháp, Phó Giám đốc Cục Hợp tác KTQS Liên bang Nga (FSVTS) Aleksandr Fomin tiết lộ Nga và Việt Nam đã đàm phán hợp đồng bán cho Việt Nam lô tiếp theo máy bay tiêm kích Su-30MK2 gồm 12 chiếc vào mùa thu, giao hàng 2012-2013.

Năm 2009, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã rút lệnh cấm xuất khẩu trực thăng quân sự cho Việt Nam qua sự vận động lâu dài của tập đoàn Executive Decision Export Services Group. Thay thế vào đó các trực thăng Hoa Kỳ xuất khẩu sang Việt Nam phải được thiết kế cho các công tác chuyên vận hay cứu hộ (SAR).

Sau khi lệnh cấm vận được gỡ bỏ, Việt Nam đã ký kết các hợp đồng nâng cấp những chiếc UH-1H Huey thu được sau chiến tranh Việt Nam. Đồng thời Bộ Quốc phòng Việt Nam đã ký hợp đồng mua trực thăng của Pháp. Bao gồm: EC-155B, AS-350B3, SA-332L2, SA-330J, EC-225... Các loại máy bay này được chuyển giao cho Tổng Công ty Trực thăng Việt Nam.

Năm 2010, Việt Nam đặt mua 12 chiếc Sukhoi Su-30MK2V và đến tính năm 2012 đã nhận được 11 chiếc trong số đó. Hiện nay, Không quân Nhân dân Việt Nam đang sở hữu 1 phi đội máy bay tác chiến trên biển Su-30 gồm 23-24 chiếc.

Chế tạo máy bay[sửa | sửa mã nguồn]

Từ những năm 80, Việt Nam đã đề xuất chương trình chế tạo máy bay. Ba chiếc máy bay TL-1, HL-1, HL-2 được chế tạo phục vụ công tác huấn luyện. Tuy nhiên, các máy bay này dần được lưu kho và hiện nay trở thành hiện vật trưng bày tại Bảo tàng Phòng không-Không quân (Hà Nội).

Sau thất bại của máy bay VAM và trực thăng "hai lúa", Nhà máy A41 thuộc Cục Kỹ thuật quân chủng phòng không - không quân chế tạo thành công máy bay lưỡng dụng siêu nhẹ VNS-41. VNS-41 hiện đang được đưa vào sử dụng cho mục đích tuần tra. Tiếp đó, dự án "thiết kế chế tạo máy bay không người lái điều khiển theo chương trình" thành công sau 5 năm (2001-2005). Máy bay do thám không người lái M-400 UAV đã được đưa vào sử dụng.

Ngoài ra, các cơ quan nghiên cứu chế tạo máy bay của Việt Nam cũng quan tâm đến nhiều dự án máy bay tư nhân như trường hợp máy bay Kata.

Báo cáo gửi UNROCA[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng 6: Các báo cáo gửi United Nations Register of Conventional Arms, 1992-2006

Năm Xuất khẩu tới Việt Nam (Báo cáo của các nước bán vũ khí)
1992 Không
1993 Không
1994 Không
1995 6 máy bay chiến đấu; 14 tên lửa R-27R1 cùng giá treo
1996 6 Mig-21UM
1998 Không
1999 Không
2000 8 tên lửa và bệ phóng
2001 Không
2002 4 L-39
2003 6 L-39
2004 4 máy bay chiến đấu; 20 tên lửa và bệ phóng
2005 3 Su-22 và 5 Su-22UM3
2006 5 Su-22; 2 xe bọc thép hạng nhẹ
Năm Nhập khẩu từ Việt Nam (Báo cáo của Việt Nam)
1992 Không gửi báo cáo
1993 Không gửi báo cáo
1994 Không mua gì
1995 1 Su-27UBK và 5 Su-27SK
1996 Không mua gì
1997 2 Sukhoi Su-27
1998 Không mua gì
1999 Không mua gì
2000 Không mua gì
2001 Không mua gì
2002 Không mua gì
2003 Không mua gì
2004 4 máy bay chiến đấu; 20 tên lửabệ phóng
2005 12 xe mang phóng và 62 tên lửa S-300
2006 Không mua gì

Hải quân[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam đang rất nỗ lực cải thiện khả năng kiểm soát các vùng nước nông và vùng đặc quyền kinh tế, hướng sức mạnh hải quân vào vùng Biển Đông và tăng cường khả năng chống ngầm. Hải quân Việt Nam gần đây có kế hoạch đóng tới 20 tàu tên lửa theo chiến lược "biển xanh - blue water" và hiện đại hóa các Tổ hợp đóng tàu Hồng HàBa Son. Việt Nam cũng đang thực hiện chương trình để thay thế các tàu và phương tiện cũ và lỗi thời thông qua chương trình mua sắm hoặc tự đóng mới đến 2010. Chương trình này hướng đến việc trang bị những tàu chiến đấu và phương tiện có tính chiến lược cho Hải quân theo kế hoạch đã được Chính phủ và Bộ Quốc phòng thông qua.

Việt Nam nỗ lực để bảo vệ những khu vực khai thác dầu mỏ và khí đốt then chốt ngoài khơi mà nước này tuyên bố thuộc chủ quyền, đối phó với sự gia tăng sức mạnh có chủ ý của các quốc gia láng giềng và đối phó hiệu quả với mối đe dọa tiềm tàng bởi sự gia tăng số lượng tàu ngầm thông thường của Trung Quốc và các nước trong khu vực. Những chương trình mua sắm giới hạn của hải quân tập trung vào việc phát triển khả năng tác chiến chống ngầm, chống tàu nổi và quét mìn.

Hệ thống huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Mua sắm chiến hạm[sửa | sửa mã nguồn]

Trong giai đoạn 1996-1999, Việt Nam đã mua 4 tàu hộ vệ loại Tarantul-2 cải tiến từ Liên bang Nga. Các tàu này được trang bị các cặp ống phóng kép dùng tên lửa đối hạm SS-N-2D Styx, tên lửa phòng không Igla, và pháo bổ trợ.

Năm 1997, Việt Nam đã mua 2 tàu ngầm cỡ nhỏ lớp Yugo từ Bắc Triều Tiên. Theo Hiệp định Hợp tác quốc phòng giữa 2 nước, Hải quân Ấn Độ đồng ý cung cấp dịch vụ huấn luyện nhân viên cho Hải quân Việt Nam, bao gồm cả huấn luyện kíp thủy thủ tàu ngầm. Hiện vẫn chưa rõ là có sự liên quan với một chương trình mua sắm tàu ngầm mới hay không, hay đơn thuần chỉ là đi kèm với việc mua các tàu ngầm lớp Yugo. Dù vậy, việc mua tàu ngầm mini Yugo có thể cho thấy đây là bước đầu trong chương trình tăng cường năng lực tác chiến dưới mặt nước và chống ngầm của Việt Nam vốn được định hướng từ lâu.

Gần đây, năm 2008, Việt Nam được cho là muốn mua các tàu ngầm đã qua sử dụng của Serbia. Cơ hội này đã nảy sinh khi Serbia và Montenegro chia tách năm 2006, dẫn đến Serbia không còn đường bờ biển. Việt Nam nhận thấy có thể mua 3 tàu ngầm thông thường và 3 tàu ngầm mini vốn đã không còn bờ biển để hoạt động. Tuy nhiên, nỗ lực này bất thành, vì sau đó toàn bộ các tàu ngầm đã được bán cho Ai Cập.

Theo Hiệp định Hợp tác Quốc phòng kỳ hồi thàng 3 năm 2000, Hải quân Ấn Độ cũng đồng ý sửa chữa, nâng cấp và đóng mới các tàu tuần tra cao tốc cho hải quân Việt Nam. Tháng 6 năm 2005, Hải quân Ấn Độ đã chuyển 150 tấn phụ tùng và linh kiện cho các tàu hộ tống Petya và tàu tấn công tên lửa Osa-II. Tháng 12 năm 2007, trong chuyến thăm Hà Nội của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng A. K. Anthony, Ấn Độ đã đồng ý cung cấp cho Việt Nam 5.000 chi tiết phụ tùng thiết yếu cho ác tàu chống ngầm lớp Petya để đảm bảo khả năng hoạt động của chúng. Tháp tùng Bộ trưởng còn có các sĩ quan cấp cao của Hải quân Ấn Độ.

Ngày 24/6/2009, tại triển lãm hải quân MVMS-2009St. Petersburg, Nga, ông Oleg Azizov, đại diện Rosoboronoexport cho biết, năm 2010, Nga sẽ chuyển giao cho Việt Nam 2 tàu hộ tống Gepard 3.9 theo hợp đồng ký năm 2006.Sau đó,hải quân Việt Nam đã đặt tên cho hai tàu Gepard 3.9 nhập từ nga là Lý Thái Tổ và Đinh Tiên Hoàng. co nhiệm vụ là tàu hộ tống đa năng hạng nhẹ Tàu hộ vệ lớp Gepard dùng để thực hiện các nhiệm vụ hộ tống, tuần tiễu, bảo vệ hải phận và vùng đặc quyền kinh tế, yểm trợ các hoạt động trên biển; khi cần thiết có thể làm các nhiệm vụ săn tìm, theo dõi và tác chiến hiệu quả chống các mục tiêu tàu nổi, tàu ngầm và máy bay; tuần tiễu, hộ tống, rải lôi, chi viện hỏa lực cho lực lượng đổ bộ. Tàu có thể hoạt động tác chiến độc lập hoặc trong đội hình biên đội tàu chiến thuật. Tàu được trang bị nhiều loại vũ khí tiên tiến nhất của Nga hiện nay, trong đó có hệ thống phòng không Palma-SU, hệ thống tên lửa Uran và trực thăng Ka-28.

Trước đó, có tin Nga cũng đang đàm phán về việc đóng cho Hải quân Nhân dân Việt Nam 6 tàu ngầm Projekt 636 Kilo và các vũ khí kèm theo trị giá 4,3 tỷ USD.

Ngoài ra, năm 2011 Việt Nam còn nhận được 2 hệ thống tên lửa phòng thủ bở biển K-300P Bastion-P đặt hàng từ năm 2005 từ Nga. K-300 là hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển hiện đại nhất thế giới, sử dụng tên lửa chống hạm tân tiến P-800 Yakhont có vận tốc bằng 2,5 lần tốc độ âm thanh và có tầm bắn đến 300 km.

Chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2001, Việt Nam đã hạ thủy chiếc tàu tấn công tên lửa BPS-500 mang 8 tên lửa Kh-35 Uran theo thiết kế mà Nga chuyển giao. Tuy nhiên tàu không đáp ứng được những tiêu chuẩn mà Hải quân Việt Nam đề ra, nên dự án không được tiếp tục. Việt Nam chuyển hướng sang đóng tàu tên lửa lớp Molniya. Theo hợp đồng năm 2006, Việt Nam được cấp bản quyền để tự đóng 10 tàu loại này.

Cuối tháng 9/2011, Công ty đóng tàu Hồng Hà (Nhà máy Z173) đã xuất cảng tàu chiến "made in Vietnam" hoàn toàn do Việt Nam sản xuất từ khâu thiết kế (có mua tham khảo từ phía Nga) đến đóng tàu. Tàu hiện mang tên TT-400TP. Đây là lớp tàu pháo có vũ khí điều khiển tự động hoạt động trên biển với bốn nhiệm vụ: tiêu diệt tất cả tàu chiến đổ bộ và tàu hộ tống của địch; bảo vệ căn cứ các đội tàu đổ bộ và đội tàu hộ tống ở vùng hoạt động của các lực lượng và tàu phục vụ các lực lượng rà quét mìn; bảo vệ tàu dân sự trên biển và trinh sát chiến thuật cảnh giới mặt nước.[8]

Cuối năm 2011, Việt Nam cũng đàm phán với Nga về việc mua tiếp 2 tàu hộ vệ Gepard 3.9 và bản quyền để tự đóng 2 tàu loại này trong nước.Đến năm 2012, Việt Nam đã nhận được lô 2 tàu này.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]