Hoàng Kim Giáp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hoàng Kim Giáp
Tập tin:Curseofgoldenflower.jpg
Áp phích phim
Thông tin phim
Đạo diễn Trương Nghệ Mưu
Sản xuất Giang Chí Cường
Trương Nghệ Mưu
Tác giả Trương Nghệ Mưu
Viết kịch: Tào Ngu
Diễn viên Châu Nhuận Phát
Củng Lợi
Chu Kiệt Luân
Âm nhạc Mai Lâm Mậu
Quay phim Trương Nghệ Mưu
Phát hành Hoa Kì:
Sony Pictures Classics
Hồng Kông:
Edko Film
Công chiếu

Cờ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 21 tháng 12, 2006
Flag of the United States 21 tháng 12, 2006

Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland 13 tháng 4, 2007
Độ dài 114 phút.
Quốc gia Trung Quốc
Ngôn ngữ Quan thoại
Kinh phí $45,000,000

Hoàng Kim Giáp (giản thể: , phồn thể: 滿; bính âm: Mǎnchéng Jìndài Huángjīnjiǎ - Mãn thành tận đới Hoàng Kim Giáp) là một phim võ thuật kết hợp tâm lý xã hội của đạo diễn nổi tiếng Trương Nghệ Mưu làm năm 2006, kịch bản dựa trên vở kịch Lôi Vũ của Tào Ngu, nhưng bối cảnh phim diễn ra đã bị đẩy lùi từ Thiên Tân thởi cận đại về thời Hậu Đường thuộc Ngũ Đại Thập Quốc. Tuy nhiên, Hoàng Kim Giáp đã phát triển tình tiết theo hướng khác so với nguyên bản Lôi Vũ của Tào Ngu.

Một bối cảnh trong phim Hoàng Kim Giáp

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Phim lấy cốt truyện và tình tiết dựa vào vở kịch Lôi Vũ của Tào Ngu, nhưng được đẩy lùi bối cảnh về thời Ngũ Đại Thập Quốc. Thời Ngũ Đại Thập Quốc, đất nước Trung Quốc chiến tranh liên miên. Vua Hậu Đường trước khi lên ngôi đã ăn nằm và có với một cô thôn nữ hai con, gồm một trai (đại hoàng tử) và một gái. Tuy nhiên, ông lại kết hôn và lấy công chúa của nước láng giềng làm hoàng hậu. Cô thôn nữ nuốt hận ôm con gái bỏ đi, lấy Tưởng thái y làm chồng. Trong lễ hội Cúc hoa, Hoàng hậu cùng Vương tử Nguyên Kiệt đã dấy quân lật đổ Đại vương nhưng không thành công.

Phân vai[sửa | sửa mã nguồn]

  • Châu Nhuận Phát trong vai Đại vương (tương ứng Chu Phác Viên trong Lôi vũ của Tào Ngu)
  • Củng Lợi trong vai Vương hậu (tương ứng Phồn Y trong Lôi Vũ)
  • Châu Kiệt Luân trong vai Vương tử Nguyên Kiệt (元杰) (tương ứng Lỗ Đại Hải trong Lôi Vũ)
  • Tần Tuấn Kiệt trong vai Vương tử Nguyên Thành (元成) (tương ứng Chu Bình trong Lôi Vũ)
  • Lưu Diệp trong vai Thái tử Nguyên Tường (元祥) (tương ứng Chu Xung trong Lôi Vũ)
  • Nghê Đại Hoành trong vai Tưởng thái y (tương ứng Lỗ Quý trong Lôi Vũ)
  • Trần Cẩn trong vai Nguyên Phối phu nhân (tương ứng Thị Bình trong Lôi Vũ)
  • Lý Mạn trong vai Tưởng Thiền (蔣 嬋), con gái Tưởng thái y, thực ra là con Đại vương (tương ứng Lỗ Tứ Phượng trong Lôi Vũ).

Nhan đề phim[sửa | sửa mã nguồn]

Nhan đề Hoàng Kim Giáp lấy từ câu cuối của một thi phẩm thời Đường của Hoàng Sào, nhan đề "Bất đệ hậu phú cúc" (xem đầy đủ tại Thơ của Hoàng Sào):

Nguyên văn Hán văn: 滿城盡帶黃金甲。

Phiên âm Hán-Việt: Mãn thành tận đới hoàng kim giáp.

Tạm dịch nghĩa: Áo giáp vàng ở đầy đất khắp thành.

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Phần âm nhạc trong phim do nhạc sĩ người Nhật Umebayashi Shigeru (梅林茂 Umebayashi Shigeru?, Mai Lâm Mậu) phụ trách. Shigeru Umebayashi cũng chính là nhạc sĩ của các phim Tâm trạng khi yêu2046 (đạo diễn Vương Gia Vệ, diễn viên Lương Triều Vĩ, Trương Mạn Ngọc), Thập diện mai phục (House of Flying Daggers) năm 2004 của Trương Nghệ Mưu, phim Tô Khất Nhi của đạo diễn Viên Hòa Bình, Hoắc Nguyên Giáp (Fearless) của đạo diễn Vu Nhân Thái, chỉ đạo võ thuật Viên Hoà Bình, ngôi sao Lý Liên Kiệt thủ vai năm 2006

Trang phục[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả các nhân vật nữ trong phim từ hoàng hậu tới các cung nữ đều mặc trang phục cung đình hở vòng một nhiều, khiến phim này bị khán giả chế giễu.[1] Chiếc áo long bào để Châu Nhuận Phát mặc được may bằng nhiều sợi chỉ vàng 18 K có giá thành lên tới 1,25 triệu Nhân dân tệ[2]. Việc phục trang trong phim này đã mang về cho nhà thiết kế Yee Chung-Man một giải Kim Tượng và một đề cử cho giải Oscar lần 79, năm 2006-2007

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Phim hay nhất: xếp hạng 4
  2. Đạo diễn xuất sắc nhất (Trương Nghệ Mưu): hạng 4
  3. Nam diễn viên chính xuất sắc nhất (Châu Nhuận Phát): hạng 4
  4. Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất (Củng Lợi)[3]
  5. Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất (Châu Kiệt Luân hạng 4 và Lưu Diệp hạng 5)
  6. Kỹ thuật quay phim xuất sắc nhất: Triệu Tiểu Đinh (趙小丁) hạng 5
  7. Chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc nhất (Trình Tiểu Đông)[3]
  8. Trang phục xuất sắc nhất: Hề Trọng Văn (奚仲文)[3]
  9. Vũ đạo
  10. Best Original Film Score: Shigeru Umebayashi hạng 4
  11. Ca khúc hay nhất: Hoàng Kim Giáp (菊花台), phổ nhạc và biểu diễn: Châu Kiệt Luân, lời: Vincent Fang)[3]
  12. Thiết kế âm nhạc xuất sắc nhất: Tao Jing & Roger Savage hạng 3
  13. Hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất: Angela Barson, Frankie Chung Chi Hang, John Leonti & Sze Cheuk Wah hạng 3

Ăn theo[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nổi tiếng của phim đã kéo theo sự xuất hiện của 43 sản phẩm đăng ký bản quyền, bao gồm khóa cửa, rượu, và bao cao su.[4]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Hoàng Kim Giáp" bị chế giễu vì phô ngực diễn viên, VnExpress
  2. ^ Bí mật chiếc long bào trong phim "Mãn thành tận đới hoàng kim giáp"
  3. ^ a ă â b c Thông tin trên trang chính thức giải Kim Tượng. Tại đây nói giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất không phải là Củng Lợi, cũng như thứ tự đoạt giải có thể khác biệt
  4. ^ Theo Minh Quân, cập nhật thứ bảy, 21/4/2007, 14:20

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]