Hoàng Trung Thông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hoàng Trung Thông
1
Hoàng Trung Thông
Bút danh Bút Châm, Đặc Công
Công việc nhà thơ
Ngôn ngữ Tiếng Việt
Quốc gia Việt Nam
Dân tộc Kinh
Quốc tịch Việt Nam
Thể loại Thơ, tiểu luận phê bình

Hoàng Trung Thông (1925-1993) là một gương mặt thơ tiêu biểu có vị trí đại diện cho nền thơ cách mạng của nước Việt Nam mới. Trong các thi sĩ Việt Nam thế kỉ 20 ông là người có học vấn uyên bác. Thơ ca của ông giúp con người sống tốt hơn, tâm hồn trong sạch hơn, đánh thức tình yêu với con người, nỗ lực đấu tranh vì những lí tưởng nhân đạo và sự tiến bộ của con người. Thơ Hoàng Trung Thông ảnh hưởng mạnh mẽ và tác động tới đời sống nhiều thế hệ. Nhà nghiên cứu - giáo sư Phan Ngọc đã từng viết về ông: "Trong thâm tâm, anh là con người nhỏ bé, của những con người nhỏ bé. Trong thơ, anh chỉ là nhà thơ của những người nhỏ bé""Chỉ có một Hoàng Trung Thông nhỏ bé, không hài lòng với chính mình. Đó là cái lớn của Hoàng Trung Thông".

Ở thành phố Vinh có một con đường mang tên thi sĩ Hoàng Trung Thông.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng Trung Thông sinh ngày 05 tháng 05 năm 1925 tại xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, Việt Nam. Ông còn có những bút danh khác như Đặc Công, Bút Châm. Thuở nhỏ ông theo học chữ Hán và được coi như một thần đồng nổi tiếng khắp vùng. Đến năm 12 tuổi, ông theo học trường Quốc Học Vinh, một trong những trường danh giá thời bấy giờ.

Ông giỏi 3 ngoại ngữ: Tiếng Trung, Tiếng Pháp, Tiếng Anh và đã dịch rất nhiều tác phẩm thơ cũng như văn xuôi nổi tiếng trên thế giới.

Ông cũng là một nhà nghiên cứu lí luận phê bình xuất sắc, nhà thư pháp tài hoa.

Ông là một thi sĩ giàu lòng yêu nước, mang tính nhân bản và sớm tham gia cách mạng từ trước 1945 trong phong trào Việt Minh. Trong Kháng chiến chống Pháp, ông cùng Hải Triều, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên lãnh đạo Hội văn Nghệ khu IV.

Thi sĩ Hoàng Trung Thông có tính cách phóng khoáng, hóm hỉnh. Lúc sinh thời, nhà thơ Chế Lan Viên đã mến tặng người bạn thân thiết của mình bài thơ "Gửi Trạng Thông họ Hoàng":

"Ông thì hay say

Tôi thì quá tỉnh

Mà ông đằm tính

Tôi thì hay gây

Thiên hạ người người yêu ông

Tôi thiên hạ ghét

Gặp tôi người ta lườm nguýt

Nghe ông người ta thông

Thế mà lạ không

Hai đứa thân nhau mãn kiếp".

Hoàng Trung Thông kết hôn vào năm 1955. Vợ ông là chị gái của Phó giáo sư Văn Như Cương[1]. Ông mất ngày 04 tháng 01 năm 1993 do bệnh phổi và gan tại Hà Nội. Mặc dù giữ nhiều trọng trách trong văn nghệ nhưng cả đời ông sống nghèo nàn, thanh bạch. Cuối đời, ông thường nói một mình trong đêm với tượng Lí Bạch,Lỗ Tấn, Pushkin...

Chức vụ đảm nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thơ từng đảm nhiệm các chức trách: cán bộ văn nghệ của khu ủy Liên khu IV, tỉnh ủy viên tỉnh ủy Nghệ An, ủy viên Tiểu ban Văn nghệ Trung ương; thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ thuộc Hội Văn nghệ Việt Nam; tổng biên tập báo Văn nghệ, báo Tác phẩm mới của Hội Nhà văn Việt Nam; Giám đốc Nhà xuất bản Văn học, Vụ trưởng Vụ Văn nghệ thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương; Viện trưởng Viện Văn học (1976-1985).

Những tác phẩm chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu luận phê bình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chặng đường mới của văn học chúng ta (1961)
  • Cuộc sống thơ và thơ cuộc sống (1979)
  • Những người thân những người bạn (2008)

Thơ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quê hương chiến đấu (1955)
  • Đường chúng ta đi (1960)
  • Những cánh buồm (1964)
  • Đầu sóng (1968)
  • Trong gió lửa (1971)
  • Như đi trong mơ (1977)
  • Hương mùa thơ (1984)
  • Tiếng thơ không dứt (1989)
  • Mời trăng (1992)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Giai điệu tự hào số 4 tháng 4 năm 2014 VTV1 HD”. 27 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2014.  Phút 30:00