Hoàng Trung Thông
| Hoàng Trung Thông | |
|---|---|
Hoàng Trung Thông |
|
| Bút danh | Bút Châm, Đặc Công |
| Công việc | nhà thơ |
| Ngôn ngữ | Tiếng Việt |
| Quốc gia | Việt Nam |
| Dân tộc | Kinh |
| Quốc tịch | Việt Nam |
| Thể loại | Thơ, tiểu luận phê bình |
Hoàng Trung Thông (1925-1993) là nhà thơ xuất sắc trong Kháng chiến chống Pháp. Trong các thi sĩ Việt Nam thế kỉ 20 ông là người có học vấn uyên bác. Thơ Hoàng Trung Thông ảnh hưởng mạnh mẽ và tác động tới đời sống nhiều thế hệ. Nhà nghiên cứu - giáo sư Phan Ngọc đã từng viết về ông: “Trong thâm tâm, anh là con người nhỏ bé, của những con người nhỏ bé. Trong thơ, anh chỉ là nhà thơ của những người nhỏ bé” và “Chỉ có một Hoàng Trung Thông nhỏ bé, không hài lòng với chính mình. Đó là cái lớn của Hoàng Trung Thông”.
Ở thành phố Vinh có một con đường lớn mang tên thi sĩ Hoàng Trung Thông.
Mục lục |
Cuộc đời [sửa]
Hoàng Trung Thông sinh ngày 05 tháng 05 năm 1925 tại xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, Việt Nam. Ông còn có những bút danh khác như Đặc Công, Bút Châm. Thuở nhỏ ông theo học chữ Hán và được coi như một thần đồng nổi tiếng khắp vùng. Đến năm 12 tuổi, ông theo học trường Quốc Học Vinh, một trong những trường danh giá thời bấy giờ.
Ông giỏi 3 ngoại ngữ: Tiếng Trung, Tiếng Pháp, Tiếng Anh và đã dịch rất nhiều tác phẩm thơ cũng như văn xuôi nổi tiếng trên thế giới.
Ông là một thi sĩ giàu lòng yêu nước và sớm tham gia cách mạng từ trước 1945 trong phong trào Việt Minh. Trong Kháng chiến chống Pháp, ông cùng Hải Triều, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên lãnh đạo Hội văn Nghệ khu IV.
Thi sĩ Hoàng Trung Thông có tính cách phóng khoáng, hóm hỉnh. Lúc sinh thời, nhà thơ Chế Lan Viên đã mến tặng người bạn thân thiết của mình bài thơ "Gửi Trạng Thông họ Hoàng":
"Ông thì hay say
Tôi thì quá tỉnh
Mà ông đằm tính
Tôi thì hay gây
Thiên hạ người người yêu ông
Tôi thiên hạ ghét
Gặp tôi người ta lườm nguýt
Nghe ông người ta thông
Thế mà lạ không
Hai đứa thân nhau mãn kiếp”.
Hoàng Trung Thông mất ngày 04 tháng 01 năm 1993 do bệnh phổi và gan tại Hà Nội. Cuối đời, ông thường nói một mình trong đêm với tượng Lí Bạch, Đỗ Phủ, Lỗ Tấn, Pushkin...
Chức vụ đảm nhận [sửa]
Nhà thơ từng đảm nhiệm các chức trách: cán bộ văn nghệ của khu ủy Liên khu IV, tỉnh ủy viên tỉnh ủy Nghệ An, ủy viên Tiểu ban Văn nghệ Trung ương; thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ thuộc Hội Văn nghệ Việt Nam; tổng biên tập báo Văn nghệ, báo Tác phẩm mới của Hội Nhà văn Việt Nam; Giám đốc Nhà xuất bản Văn học, Vụ trưởng Vụ Văn nghệ thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương; Viện trưởng Viện Văn học (1976-1985).
Những tác phẩm chính [sửa]
Tiểu luận phê bình [sửa]
- Chặng đường mới của văn học chúng ta (1961)
- Cuộc sống thơ và thơ cuộc sống (1979)
- Những người thân những người bạn (2008)
Thơ [sửa]
- Quê hương chiến đấu (1955)
- Đường chúng ta đi (1960)
- Những cánh buồm (1964)
- Đầu sóng (1968)
- Trong gió lửa (1971)
- Như đi trong mơ (1977)
- Hương mùa thơ (1984)
- Tiếng thơ không dứt (1989)
- Mời trăng (1992)