Hoạt động của Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1911-1941

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thời kì 1911-1919[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, từ Bến Nhà Rồng, ông lấy tên Văn Ba, lên đường sang Pháp với nghề phụ bếp trên chiếc tàu buôn Đô đốc Latouche-Tréville của hãng vận tải Hợp nhất (Compagnie des Chargeurs réunis), thường được gọi nôm na là hãng Nǎm Sao, với mong muốn học hỏi những tinh hoa và tiến bộ từ các nước phương Tây[1].

Trong thập niên 1960, khi nói chuyện với khách nước ngoài, ông cho biết rằng ông đã từng là lính thủy[2].

Khi mới sang Pháp, ông có làm đơn xin được vào học tại Trường hành chính thuộc địa, nhưng không được chấp thuận (trong đơn này ông tự ghi là sinh năm 1892). Ngày 31 tháng 11 năm 1912, ông chuyển 15 đồng bạc Đông Dương cho cha mình.

Đầu tháng 12 năm 1912, ông sang Hoa Kỳ. Ngày 15 tháng 12 năm 1912, từ New York, ông viết thư cho Khâm sứ Trung Kỳ nhờ tìm địa chỉ cha mình và muốn xin cho người cha một công việc. Thư này ông ký tên là Paul Tất Thành.

Cuối năm 1913, Nguyễn Tất Thành rời nước Mỹ sang nước Anh làm nghề cào tuyết cho một trường học, đốt lò rồi phụ bếp cho khách sạn.

Đầu năm 1914, ông gửi thư cho Phan Châu Trinh, thông báo vắn tắt tình hình bản thân, đưa ra những nhận xét về chiến tranh thế giới đang diễn ra và dự đoán những chuyển biến có thể có. Ông cũng gửi cho Phan Châu Trinh một bài thơ thất ngôn bát cú với hai câu mở đầu như sau:

Chọc trời khuấy nước tiếng đùng đùng
Phải có kiên cương mới gọi hùng
và hai câu kết:

Ba hột đạn thầm hai tấc lưỡi
Sao cho ích giống mấy cam lòng.

Ngày 16 tháng 4 năm 1915, ông viết thư cho Toàn quyền Đông Dương, thông qua lãnh sự Anh tại Sài Gòn, nhờ tìm địa chỉ của cha. Thư ký tên Paul Thành.

Cuối năm 1917, ông trở lại nước Pháp, sống và hoạt động ở đây cho đến năm 1923...

Thời kì ở Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Ái Quốc, đại biểu Đông Dương thuộc Pháp trong thời gian dự Đại hội thành lập Đảng Cộng sản Pháp tại Marseille, năm 1921

Ngày 18 tháng 6 năm 1919, nhân danh một nhóm người Việt Nam yêu nước[3], ông phổ biến "Yêu sách của nhân dân An Nam", gồm tám điểm và được viết bằng tiếng Pháp (Revendications du peuple annamite), ký tên Nguyễn Ái Quốc và gửi tới Hội nghị Hòa bình Versailles, đòi chính phủ Pháp ân xá chính trị phạm, thực hiện các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Ông còn gửi thư riêng kèm theo bản yêu sách cho các đoàn đại biểu Đồng Minh dự hội nghị, nhưng không gây được sự chú ý [4]. Từ đó ông dùng tên Nguyễn Ái Quốc.

Giữa năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lenin đăng trên báo L'Humanité (tờ này là cơ quan phát ngôn của Đảng Cộng sản Pháp), từ đó ông đi theo chủ nghĩa cộng sản. Ông tham dự Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp tại Tours với tư cách là đại biểu Đông Dương, trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp. Sau này, ông thừa nhận: "Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước chứ không phải chủ nghĩa cộng sản đã làm tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế III"[5].

Tranh biếm họa của Nguyễn Ái Quốc cho tờ Le Paria, đời sống người dân dưới ách thống trị của thực dân Pháp

Năm 1921, ông cùng một số nhà yêu nước của các thuộc địa Pháp lập ra Hội Liên hiệp Thuộc địa (Union intercoloniale - Association des indigènes de toutes les colonies). Năm 1922, ông cùng một số nhà cách mạng thuộc địa ra báo Le Paria (Người cùng khổ).[6] Tờ này ra được 38 số với mỗi số bán được quãng 1000 tới 5000 bản, một con số thuyết phục vào lúc bấy giờ[7].Ngoài ra, ông viết bài cho hàng loạt báo khác.[8]. Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (Procès de lagg colonisation française) do ông viết được xuất bản năm 1925, đã tố cáo chính sách thực dân tàn bạo của Pháp và đề cập đến phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa.[9] Ông là trưởng Tiểu ban Đông Dương của Đảng Cộng sản Pháp.

Năm 1923, với tư cách đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, ông ra tranh cử vào Hạ viện Pháp, nhưng thất bại. Trong lần đầu tiên tham gia bầu cử Quốc hội đó, Đảng Cộng sản Pháp giành được tất cả 1,2 triệu phiếu ủng hộ trên tổng số 5 triệu phiếu cử tri, nhưng Nguyễn Ái Quốc trượt chân dân biểu Quốc hội[10].[11]

Trong toàn bộ thời gian sống trên đất Pháp, ông trang trải cuộc sống bằng cách làm việc nửa ngày. Thoạt đầu, ông làm thuê tại một tiệm rửa ảnh và được Phan Văn Trường nhượng quyền cho thuê lại một căn phòng. Sau đó, ông đi vẽ khoán cho một xưởng vẽ truyền thần và thuê một phòng tại căn nhà số 9 ngõ Compoint, Quận 17, Paris[12].Ông theo học dự thính tại Đại học Sorbonne và được coi là mọt sách tại Thư viện Quốc gia Pháp[13].

Thời kì ở Liên Xô lần thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm 1923,[14] Nguyễn Ái Quốc đến Moskva học tập tại trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản[15]. Tại Đại hội lần thứ 5 Quốc tế Cộng sản ông được cử làm ủy viên Ban Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam[16].

Nếu như Marx bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, Lenin bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thì Nguyễn Ái Quốc dành sự quan tâm đặc biệt đến cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Trong Tham luận trình bày tại Đại hội lần thứ 5 của Quốc tế Cộng sản (1924), Nguyễn Ái Quốc chỉ ra sự to lớn của hệ thống thuộc địa: "Năm 1876: 1/4 tỷ người dân thuộc địa thì năm 1914: 1/2 tỷ dân thuộc địa. Đến đầu những năm 20, diện tích các nước thuộc địa gấp 5 diện tích các nước chính quốc, còn dân số chính quốc chưa bằng 3/5 số dân các nước thuộc địa. Số dân thuộc địa Anh đông gấp hơn 8,5 số dân nước Anh còn đất đai rộng gấp 252 lần của nước Anh..."[17]

Ngày 23-6-1924, phát biểu tại phiên họp thứ 8 Đại hội 5, Nguyễn Ái Quốc nói: "Tôi đến đây không ngừng lưu ý Quốc tế Cộng sản đến một sự thật là: thuộc địa vẫn đang tồn tại, và vạch ra để Quốc tế Cộng sản thấy rằng: cách mạng, ngoài vấn đề tương của các thuộc địa còn có cả nguy cơ của các thuộc địa. Song, tôi thấy rằng hình như các đồng chí chưa hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa. Vì vậy, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có được, gợi ra những vấn đề và nếu cần, tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa".[18]

Trong thời gian ở Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc tranh thủ viết bài cho các báo Nhân đạo (L’Humanité), Đời sống công nhân (La Vie Ouvrière), Sự thật (Pravda), Người cùng khổ (Le Paria), Thư tín quốc tế (Inprékor), Tạp chí Cộng sản vv.v.. Các bài báo tập trung nói về các vấn đề liên quan đến giai cấp công nhân, đến cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân ở các thuộc địa, mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng thuộc địa.

Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm đến chiến lược quân sự của các nước lớn đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Sau khi phân tích những động thái quân sự của Nhật Bản ở đảo Yap, Mỹ tăng cường tàu chiến ở Thái Bình Dương, Pháp củng cố hệ thống thuộc địa vành đai Thái Bình Dương, Nguyễn Ái Quốc dự đoán chính xác rằng khu vực này "tương lai có thể trở thành lò lửa của cuộc chiến tranh thế giới mới"[19]

Thời kì ở Trung Quốc (1924-1927)[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 11 tháng 11 nǎm 1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô tới Quảng Châu, lấy tên là Lý Thụy, làm phiên dịch trong phái đoàn cố vấn của chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ Trung Hoa Dân quốc,[20].

Thời gian này ông cũng gặp mặt một số nhà cách mạng lão thành người Việt đang sống và hoạt động lưu vong trên đất Trung Quốc, trong đó có Phan Bội Châu. Trong một báo cáo gửi đoàn chủ tịch Quốc tế Cộng sản đề ngày 18 tháng 12 năm 1924, ông viết về Phan Bội Châu:

"Ông ấy không hiểu chính trị và lại càng không hiểu việc tổ chức quần chúng,tôi đã giải thích cho ông ấy hiểu sự cần thiết của tổ chức và sự vô ích của những hành động không có cơ sở. Ông ấy đã đưa tôi một bản danh sách của 14 người Việt Nam đã cùng ông ta hoạt động bấy lâu"

Trong nhóm 14 người này có một số thành viên của Tâm tâm xã - một tổ chức cấp tiến hoạt động từ 1923 với những thành viên như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Phong, Lâm Đức Thụ,...thành viên đầu tiên của Tâm tâm xã là Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Giản Thanh, Đặng Xuân Hồng, Trương Quốc Huy, Lê Cầu, Nguyễn Công Viễn; đến đầu năm 1924 thì Lê Hồng PhongPhạm Hồng Thái được kết nạp.

Nguyễn Ái Quốc

Năm 1925, ông (lúc này mang tên Vương) lựa chọn một số phần tử tích cực của Tâm tâm xã, huấn luyện thêm và trên cơ sở đó, lập ra Cộng sản đoàn, rồi tiếp tục dựa trên Cộng sản đoàn mà thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội (hay còn gọi là Hội Việt Nam cách mạng thanh niên) vào tháng 6. Hội này phái người về nước vận động và đưa thanh niên sang Quảng Châu đào tạo. Cho tới 1927, hội mở được 3 khoá gần 10 lớp huấn luyện, đào tạo 75 hội viên, mỗi khóa chỉ kéo dài 2-3 tháng. Nguyễn Ái Quốc đứng lớp, Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn phụ giảng.Việc làm quan trọng nhất của hội trong thời gian này là cử được người đi học tại Đại học Phương Đông (Liên Xô) và trường Quân chính Hoàng Phố của Quốc dân Đảng Trung Quốc. Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh cũng từng làm việc hoặc học tập ở trường Hoàng Phố. Trần Phú, Lê Hồng Phong, Bùi Công Trừng, Phùng Chí Kiên, Lê Thiết Hùng, Nguyễn Sơn,… là những người được đưa đi đào tạo tại một trong hai trung tâm trên. Phần lớn người khác, như Nguyễn Lương Bằng, sau đó về nước hoạt động. Chương trình học tập gồm:

  • Học "nhân loại tiến hóa sử", nhưng chủ yếu học thời kì tư bản chủ nghĩa cho tới đế quốc chủ nghĩa; sau đó học lịch sử vận động giải phóng của Triều Tiên, Trung Quốc, Ấn Độ, lịch sử mất nước của Việt Nam;
  • Chủ nghĩa Mác-Lenin, học có phê phán chủ nghĩa Tam dân và chủ nghĩa Gandhi.
  • Phần sau là về tổ chức: lịch sử và tổ chức ba Quốc tế Cộng sản, các tổ chức phụ nữ, thanh niên quốc tế, quốc tế cứu tế đỏ, quốc tế nông dân.
  • Phần cuối là về vận động quần và tổ chức quần chúng, bài tập là các buổi thực tập. Sau mỗi tuần có "báo cáo học vấn" tại các tiểu tổ, học viên tự kiểm tra, phê bình và tự phê bình lẫn nhau.

Ông cũng lập ra tờ Thanh niên làm cơ quan phát ngôn của hội tới tháng 2 năm 1930, tờ này ra được 208 số. Cuốn Đường Kách mệnh tập hợp các bài giảng của ông, được Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông xuất bản năm 1927. Ông cho rằng để cách mạng thành công, phải coi học trò, nhà buôn, điền chủ nhỏ đều là bầu bạn của cách mạng. Tư tưởng này của ông trong đầu thập niên 1930 đã vấp phải sự phê phán của một số người cộng sản Việt Nam khác. Ngoài ra, trong thập niên 1920, một trong những quan điểm của ông về cách mạng là: cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể bùng nổ và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.

Có bằng cớ là trong thời gian ở Quảng Châu, ông đã kết hôn với một hộ lý Trung Quốc tên là Tăng Tuyết Minh, đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc (ngày 18 tháng 10 năm 1926) và sống với nhau cho đến khi ông rời Quảng Châu, vào khoảng tháng 4 năm 1927, từ đó không bao giờ còn gặp lại.[21] Nhưng ông cũng đã từng cho rằng ông chưa bao giờ lập gia đình và có vợ con

Cùng năm 1925, ông tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông, do Liêu Trọng Khải, một cộng sự thân tín của Tôn Dật Tiên, làm hội trưởng và ông làm bí thư.

Tháng 5 năm 1927, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc đặt những người cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, ông rời Quảng Châu đi Hồng Kông, rồi sang Moskva. Tháng 11 năm 1927, ông được cử đi Pháp, rồi từ đó đi dự cuộc họp Đại hội đồng của Liên đoàn chống chiến tranh đế quốc từ ngày 9 tháng 12 đến ngày 12 tháng 12 năm 1927 tại Bruxelles, Bỉ. Sau đó, ông cũng qua Ý.

Những năm 1928, 1929[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa thu 1928, Hồ Chí Minh từ châu Âu đến Thái Lan, với bí danh Thầu Chín (trong tiếng Tháitiếng Lào, "thầu" chỉ người nhiều tuổi và biểu thị sự tôn kính) để tuyên truyền và huấn luyện cho Việt kiều, đồng thời móc nối một số thanh thiếu niên Việt Nam sang Thái Lan hoạt động. Theo Bác Hồ - hồi kí, phần kể của Lê Mạnh Trinh thì khi đó có khoảng 2 vạn người Việt sống ở Thái Lan, kiếm sống chủ yếu bằng lao động và sinh sống khá rải rác, thiếu liên kết, tập trung nhiều hơn cả là ở vùng Đông Bắc. Cho tới thời điểm 1928, đa số họ mới di cư sang Thái Lan trong vòng khoảng mấy chục năm. Ngô Quảng, Thần Sơn, Phan Bội Châu, Đặng Tử Kính... đã từng hoạt động tại Thái, tuy nhiên không ai trong số họ tuyên truyền và tổ chức cho Việt kiều cả.

Hồ Chí Minh chủ trương tuyên truyền cho kiều bào và tổ chức họ vào những hội thân ái, tổ chức các buổi sinh hoạt văn hóa cho họ, xin chính phủ Thái cho mở trường dành cho Việt kiều,[22] Hồ Chí Minh đi (chủ yếu là đi bộ) và vận động hầu khắp các vùng có kiều bào ở Thái Lan [23]. Giống như tại nhiều nơi đã hoạt động, ông cho in báo - tờ Thân ái.

Cuối năm 1929, Hồ Chí Minh rời Thái Lan sang Trung Quốc.

Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ba tổ chức cộng sản tại Việt Nam, tuy mới thành lập nhưng đã mâu thuẫn rõ rệt và tranh giành sự ủng hộ của quần chúng. Đông Dương Cộng sản Đảng phê An Nam Cộng sản Đảng là "hoạt đầu, giả cách mạng"; An Nam Cộng sản Đảng chỉ trích Đông Dương Cộng sản Đảng là "chưa thật cộng sản", "chưa thật Bôn-sê-vích"...[cần dẫn nguồn] Ngày 3 tháng 2 năm 1930 (hoặc ngày 6 tháng 1 năm 1930[24]), tại Cửu Long (九龍) thuộc Hương Cảng, ông thống nhất ba tổ chức đảng cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam trong một hội nghị được tổ chức tại nhà một người công nhân, ngoài ông còn có 5 người khác là các đại diện cộng sản. Các văn kiện quan trọng nhất (như Chính cương vắn tắt, Sách lược, Điều lệ vắn tắt của Đảng, Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng) của hội nghị này đều do ông soạn thảo và được cho là thể hiện những quan điểm và tư tưởng khác với chủ trương khi đó của Quốc tế Cộng sản. Bởi vậy, khi Trần Phú về nước vào tháng 4 năm 1930 thì được bầu bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời của Đảng và được giao soạn thảo Luận cương chính trị cũng như trở thành Tổng bí thư. Luận cương chính trị này, theo như nhận định chính thống trong các văn kiện và tài liệu ở giai đoạn sau của Đảng Cộng sản Việt Nam, mang tính tả khuynh rõ rệt.

Tháng 3 năm 1930, ông trở lại Thái Lan trong một thời gian ngắn, sau đó quay lại Trung Hoa.

Những năm 1931 - 1933[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1931, dưới tên giả là Tống Văn Sơ, Nguyễn Ái Quốc bị nhà cầm quyền Hương Cảng bắt giam. Ông bị giam cả thảy hơn một năm. Ban đầu chính quyền Anh tại Hương Cảng dự định trục xuất ông với ý định lực lượng của Pháp sẽ bắt ông và đưa về Việt Nam. Tại đó Pháp sẽ thi hành ngay tức thì bản án tử hình vắng mặt cho Nguyễn Ái Quốc đã được tuyên tại Tòa án Vinh từ tháng 10/1929.[25]

Các đồng chí của ông - (Hồ Tùng MậuTrương Vân Lĩnh) liên hệ được với Công hội Đỏ và gia đình luật sư Frank Loseby can thiệp, bào chữa cho ông. Sau nửa năm phiên tranh tụng, ngày 28/12/1932, tại tòa án trong điện Buckingham, có mặt Đức vua Anh, hầu tước chánh án đã phán quyết Tống Văn Sơ vô tội.[26] Ông bèn xuống tàu sang Tân-gia-ba (Singapore), song vẫn bị mật thám theo dõi. Tàu vừa cập bến Tân-gia-ba, cảnh sát đón bắt và áp giải Tống Văn Sơ xuống tàu Hồ San quay về Hương Cảng. Họ tuyên bố rằng, chính quyền Tân-gia-ba không phụ thuộc vào bất cứ lệnh nào của các chính quyền khác, bởi thế, cũng không bắt buộc phải thi hành việc đảm bảo của chính quyền Hương Cảng.

Tại nhà tù, Tống Văn Sơ tìm cách liên lạc được với luật sư Loseby thông qua một lính gác. Trong vai trò luật sư, Loseby đã chính thức gặp nhà chức trách, phê phán họ đã chống lại lệnh tuyên án của Cơ mật viện, để cho cảnh sát bắt lại Tống Văn Sơ một cách trái phép. Chính quyền Hương Cảng lúc đó biết không thể giam giữ Tống Văn Sơ, nên đã phải can thiệp để Sở cảnh sát Hương Cảng thả Tống Văn Sơ sau mấy ngày giam giữ.[27]

Lần này để tránh mật thám, Ông được Loseby bố trí lên một chiếc cano bí mật ra khỏi Hương Cảng, cập mạn một chiếc tàu khác. Sau đó, luật sư Loseby vẫn chưa cảm thấy yên tâm, ông liền tung tin Tống Văn Sơ đã chết trong bệnh viện lao ở Hương Cảng. Mấy hôm sau, tờ Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp đăng tin Nguyễn Ái Quốc đã mất tại Hương Cảng. Mật thám Pháp cũng tin vào cái chết của Nguyễn Ái Quốc và thôi truy lùng. Trong tập hồ sơ của sở mật thám Đông Dương lập về Nguyễn Ái Quốc, ở trang cuối cùng ghi: "Nguyễn Ái Quốc đã chết trong nhà tù tại Hương Cảng".[28]

Sau khi ở Hạ Môn khoảng năm, sáu tháng, đầu năm 1933, ông lên Thượng Hải.[29] Từ đây, ông được Đảng Cộng sản Trung Quốc bố trí đưa đi Liên Xô[30].

Những năm 1933 - 1938[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1933, Nguyễn Ái Quốc đã có mặt ở Liên Xô. Ông dự Đại hội lần thứ 7 Quốc tế Cộng sản (từ ngày 25 tháng 7 đến ngày 20 tháng 8 năm 1935), nhưng không được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương của Quốc tế Cộng sản. Đại diện của Việt Nam tại Ban Chấp hành này là Lê Hồng Phong. Theo tài liệu của một số nhà sử học, ông bị ép buộc phải ở lại Liên Xô và bị giam lỏng (hoặc nói nhẹ hơn là bị kỷ luật), do bị nghi ngờ về lý do ông được nhà cầm quyền Hương Cảng trả tự do[31]. Ông phụ trách chung những người cộng sản Việt Nam và theo học khóa ngắn hạn tại trường Lenin là trường Đảng cao cấp dành cho các lãnh tụ cộng sản nước ngoài (1934-1935). Năm 1935, ông được bầu làm đại diện của Đảng Cộng sản Đông Dương bên cạnh Quốc tế Cộng sản.[32].Trong khi Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai... về nước từ 1936 và các học sinh người Việt Nam không tiếp tục sang Liên Xô nữa thì ông vẫn phải ở lại Liên Xô. Thời gian này ông có theo học lớp nghiên cứu sinh sử học của Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa nhưng sau đó không tốt nghiệp. Ông rời Liên Xô vào mùa thu năm 1938.

Ít nhất ông có hai tên gọi trong thời kì ở Liên Xô: ở trường Lenin ông lấy tên là Li Nốp, đối với nhóm học sinh ở Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa ông lấy tên là Lin[33].

Trong những năm 1931-1935, ông đã bị Trần Phú và sau đó là Hà Huy Tập phê phán về đường lối cải lương, không đúng đường lối đấu tranh giai cấp của Quốc tế Cộng sản[34]. Hà Huy Tập đã viết trên tạp chí Bônsơvích (số 8/12-1934):

"...chúng ta không được quên những tàn tích quốc gia chủ nghĩa của Nguyễn Ái Quốc và những chỉ thị sai lầm của đồng chí ấy về những vấn đề căn bản của phong trào cách mạng tư sản dân quyền và những lý luận cơ hội của đồng chí ấy bám rễ vào đầu óc của phần đông đồng chí chúng ta, giống như những tàn tích tư sản vẫn sống dai dẳng trong đầu óc những hội viên Thanh Niên, Tân Việt và Vừng Hồng.
Nguyễn Ái Quốc không hiểu được những chỉ thị của Quốc tế cộng sản; không hợp nhất được ba tổ chức cộng sản từ trên xuống dưới... Tài liệu Sách lược vắn tắt của Đảng và Điều lệ của Đảng hợp nhất không theo đúng chỉ thị của Quốc tế cộng sản. Ngoài ra Nguyễn Ái Quốc còn chủ trương một sách lược cải lương và hợp tác: "trung lập tư sản và phú nông", "liên minh với địa chủ nhỏ và vừa", v.v. Vì những sai lầm đó, nên từ tháng Giêng đến tháng Mười năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương đã đi theo một chiến lược có nhiều điểm trái với những chỉ thị của Quốc tế cộng sản, tuy trong thực tế đã lãnh đạo quần chúng kiên quyết đấu tranh cách mạng."[35]

Từ năm 1938 đến đầu năm 1941[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1938, ông trở lại Trung Quốc. Trong vai thiếu tá Bát Lộ quânHồ Quang, Nguyễn Ái Quốc đến công tác tại văn phòng Bát Lộ quân Quế Lâm, sau đó đi Quý Dương, Côn Minh rồi đến Diên An, căn cứ đầu não của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Hồng quân Trung Quốc vào mùa đông 1938. Khi này đang là thời kì Quốc-Cộng hợp tác trong cuộc kháng chiến chống Nhật, Tưởng Giới Thạch có đề nghị Đảng Cộng sản Trung Quốc cử một đoàn cán bộ đi hướng dẫn cho Quốc Dân Đảng về kỹ thuật chiến đấu du kích. Tổng phụ trách đoàn là Diệp Kiếm Anh. Từ tháng 6 năm năm 1939, Hồ Quang được gửi tới phái đoàn này làm người phụ trách chính trị[36].[37] Trên thực tế, ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương lúc này cũng mất liên lạc với ông tới tháng 1 năm 1940 (thời kì này lấy bí danh là Trần)[38].

Nhận xét giai đoạn những năm 1930[sửa | sửa mã nguồn]

Có thể nhận xét rằng cho tới giai đoạn này, ngoại trừ hoạt động khi thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào đầu năm 1930, vai trò của ông trong quá trình ra quyết định ở hàng ngũ lãnh đạo cộng sản cũng như sự tham gia trực tiếp vào các sự kiện liên quan đến những người cộng sản tại Việt Nam là không nhiều. Từ thập niên 1920, các tác phẩm chính trị cũng như báo chí do ông viết đã được chuyển về nước. Trong thời kì Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939), ông có viết báo và gửi bài về in trên tờ Notre Voix - tờ báo công khai của Đảng bằng tiếng Pháp - dưới bút danh P.C. Lin[39]. Một trong những việc mà ông thường làm mỗi khi có sự kiện xảy ra ở Việt Nam là viết thư đề nghị hoặc báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản, nhưng kết quả của những tác động đó là hạn chế. Khi khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra, ông - khi này đang ở Trung Quốc và chỉ biết tin qua báo chí - đã viết một bức điện với nội dung rằng thời cơ hành sự chưa chín, nhẽ ra không thể tiến hành khởi nghĩa vũ trang, nhưng khi chuyện đã rồi thì cần rút lui cho khéo nhằm duy trì được phong trào. Nhưng bức điện này không chuyển đi được[40].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ho Chi Minh - A Life, William Duiker, trang 45,
    • Nguyễn Ái Quốc trả lời nhà báo Liên Xô Ossip Mandelstam: "Hồi khoảng 13 tuổi, tôi được nghe lần đầu các từ tiếng Pháp 'tự do', 'bình đẳng', 'bác ái'. Khi đó tôi nghĩ tất cả những người da trắng đều là người Pháp. Vì người Pháp đã viết những từ này, tôi đã muốn làm quen với văn hóa Pháp để hiểu được ý nghĩa chứa trong các từ đó."
    • Trả lời phỏng vấn của nhà báo Mỹ Anna Louise Strong: "Nhân dân Việt Nam, trong đó có cha tôi, thường tự hỏi ai sẽ giúp họ loại bỏ ách thống trị của Pháp. Một số cho rằng Nhật Bản, người cho là Anh, người lại cho là Mỹ. Tôi đã thấy rằng tôi phải ra nước ngoài để tự nhìn. Sau khi tôi hiểu được họ sống như thế nào, tôi sẽ về giúp đồng bào tôi."
  2. ^ Nguyên văn trong Các cuộc đàm phán Lê Đức Thọ-Kissinger tại Paris, Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ biên soạn, NXB Công an Nhân dân, 2002, trang 198 là: "Người nhắc lại rằng Người đã từng ở Anh, từng làm đầu bếp trong một khách sạn, đã đến khu da đen ở Harlem, nhưng chưa tới Canada và đã từng là lính thủy nên đã qua nhiều cảng."
  3. ^ Bài viết Lòng yêu nước, ánh sáng và tinh thần quốc tế trên http://hanoi.vnn.vn nói rằng Nguyễn Ái Quốc "nói ý và cụ Phan Vǎn Trường viết" ra yêu sách "Quyền của các dân tộc" gồm 8 điểm (đây chính là "Yêu sách của nhân dân An Nam"). Tuy vậy, không rõ chi tiết này trong bài viết được dẫn ra từ tài liệu nào.
  4. ^ Ông còn gửi hơn 6000 bản sao của tài liệu này cho hơn 6000 thành viên các công đoàn Pháp. Một trong những bức thư đó (bức gửi cho ngoại trưởng Mỹ Robert Lansing) được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Hoa Kì và có thể được đọc tại [1]. Bức thư này nguyên khởi được viết bằng tiếng Pháp, bản lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Hoa Kì là bản dịch tiếng Anh. Xem nội dung tiếng Vệt và tiếng Anh tại Thảo luận:Yêu sách của nhân dân An Nam
  5. ^ Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, NXB Chính trị Quốc gia, 1996, trang 127; dẫn lại trong Đại cương Lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục, 2006, tập 2, trang 245.
  6. ^ Ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút và thủ quỹ, nhằm tố cáo chính sách đàn áp, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc nói chung và thực dân Pháp nói riêng.
  7. ^ Bài viết Chủ tịch Hồ Chí Minh đấu tranh bảo vệ và vận dụng sáng tạo đường lối của V.I Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa (1920-1924) trên http://hanoi.vnn.vn cho biết báo Le Paria xuất bản bằng tiếng Pháp nhưng ở trang đầu còn có tên báo bằng chữ Ả Rập và chữ Hán. Số 1 của tờ báo ra ngày 1 tháng 4 nǎm 1922, trong đó có lời kêu gọi nêu rõ: "Báo Le Paria ra đời do sự thông cảm chung của các đồng chí ở Bắc Phi, Trung Phi và Tây Phi thuộc Pháp, ở Ma-đa-gat-xca, ở Đông Dương, Ǎng ti và Guyannơ...".
  8. ^ như những tờ L'Humanité, Le Journal du Peuple, La Voix Ouvrière, Le Libétaire, ClartéL'Action Coloniale
  9. ^ Thời kì này, ông kết giao với nhiều nhà hoạt động chính trị như: Paul Vaillant-Couturier (Pháp), Abdelkader Hadj Ali (Algérie), Jean Railanmongo (Madagascar), Louis Hunkanrin (Dahomey), Lamine Senghor (Sénégal,ông này không phải là Léopold Sédar Senghor, người sau này là Tổng thống Senegal và cũng có thời gian dài ở Pháp)...
  10. ^ Bác Hồ - hồi kí, NXB Văn học, 2004, trang 61, phần kể của Bùi Lâm.
  11. ^ Điều thú vị là "Yêu sách của nhân dân An Nam" cũng là đòi có đại biểu người Việt trong Nghị viện Pháp Trong giai đoạn trước đó cũng từng có đại biểu của Việt Nam tại nghị viện Pháp, nhưng đó là đại biểu người Pháp. Một số thuộc địa châu Phi của Pháp cũng có đại biểu bản xứ (người Phi) tại Nghị viện Pháp..
  12. ^ Bác Hồ - hồi kí, NXB Văn học, 2004, trang 64, 65 cho biết Compoint là ngõ hẻm ở trong khu công nhân nghèo, cả ngõ có bốn cái nhà, ba nhà được cho thuê làm nơi để xe. Ngôi nhà Nguyễn Ái Quốc thuê trọ có tầng dưới mở quán cà phê, tầng trên có 2 phòng cho thuê, Nguyễn thuê một phòng. Căn phòng này được mô tả là "...chỉ vừa đặt một cái giường sắt, và một cái bàn con. Trên bàn có một cái thau, trong thau có một bô nước để rửa mặt... khi muốn viết lách thì phải đút bô và thau xuống gầm giường".
  13. ^ The Shadow of Shadows Hayes, Brenn Edwards
  14. ^ qua giới thiệu của Dmitri Manuilski, một lãnh đạo cao cấp của Quốc tế Cộng sản III, và đi cùng Jean Cremet, hai người này là lãnh đạo cao cấp của Quốc tế Cộng sản
  15. ^ Tại đây ông đã dự Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân ông được bầu vào Ban chấp hành và Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân.
  16. ^ Trong Thư của Nguyễn Hưng Đạt từ Matxcơva đăng trên BBC, ông Đạt cho rằng "Ông Nguyễn chưa bao giờ là Cục trưởng Cục Phương Nam của Quốc tế Cộng sản III như báo Nhân dân 05.09.1969 nêu" và "Cũng không thấy có cái Cục này trong Kho lưu trữ Liên bang, phần Tài liệu về các Quốc tế Cộng sản II và III."
  17. ^ http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30257&cn_id=458733#_ftn5
  18. ^ Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.273.
  19. ^ Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr. 243, 244
  20. ^ Đoàn này do Mikhail Markovich Borodin làm trưởng đoàn. Trong Hochiminh: The missing years, 1919-1941 (Hồ Chí Minh - Những năm chưa biết đến, 1919-1941), Sophie Quinn-Judge của London School of Economics cho rằng: "…ông Hồ lúc đó từ Nga đi Quảng Đông mà không mang theo một hướng dẫn rõ ràng về những gì ông sẽ làm tại đó. Ban đầu ông ấy không được cho một vai trò chính thức. Có vẻ như người ta đã tìm cho ông công việc làm người dịch thuật tại hãng tin của Nga tại đó để có tiền thực hiện các hoạt động chính trị của ông."
  21. ^ Sau khi ông đã trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cả hai người đã tìm nhau thông qua Đảng Cộng sản Trung Quốc và cơ quan ngoại giao Việt Nam tại Trung Quốc nhưng không thành công. Hồ Chí Minh với người vợ Trung Quốc Tăng Tuyết Minh, Hoàng Tranh (nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Quảng Tây), tạp chí Đông Nam Á Tung hoành số tháng 11 năm 2001, xuất bản tại Nam Ninh, Trung Quốc.
  22. ^ thậm chí ông còn sáng tác "Bài ca Trần Hưng Đạo" để họ sinh hoạt trong những buổi lễ Đức thánh Trần, sau khi nhận thấy đây là nhân vật lịch sử được kiều bào lập nhiều đền thờ và sùng kính nhất.
  23. ^ như tỉnh Nong Khai, tỉnh Nakhon Pathom, tỉnh Phichit, Thạt-pha-nôm, Mục-đa-hãn (huyện thuộc Nakhon), nhưng hoạt động chủ yếu ở tỉnh Ubon Ratchathani.
  24. ^ Lê Mạnh Trinh, một cán bộ cộng sản cùng hoạt động với Hồ Chí Minh ở Xiêm kể trong Bác Hồ - hồi kí (trang 148) rằng chính Hồ Chí Minh vào tháng 3 năm 1930 có nói với ông ta rằng Đảng thành lập ngày 6 tháng giêng tại Hương Cảng. Trong cùng quyển sách đó, Nguyễn Lương Bằng cũng nói rằng ngày thành lập Đảng là 6 tháng 1 năm 1930. Nhiều tài liệu chính thống hiện nay, khi đề cập về ngày thành lập Đảng, bên cạnh ngày 3 tháng 2 năm 1930 cũng thường chua thêm rằng "có tài liệu ghi là ngày 6 tháng 1 năm 1930".
  25. ^ án Hương Cảng: Kỳ 4. Trích: trong phiên tòa lần thứ nhất (31/7/1931), quan tòa đã buộc tội "Tống Văn Sơ, tức Nguyễn Ái Quốc là tay sai của Liên Xô, phái viên của Đệ tam Quốc tế cộng sản đến Hương Cảng để phá hoại chính quyền ở đây và vì lẽ đó sẽ bị trục xuất khỏi Hương Cảng vào ngày 18/8/1931, do chiếc tàu thủy An-gi-ê (Algiers) của Pháp chở về Đông Dương"!
  26. ^ http://vietbao.vn/Phong-su/Vu-an-Huong-Cang-Ky-5-Thoat-tha-ra-lai-bat-vao-nhu-choi/70012142/262/
  27. ^ http://vietbao.vn/Xa-hoi/Vu-an-Huong-Cang-Ky-6-Nhung-doa-sen-noi-vien-xu/70012294/157/
  28. ^ http://vietbao.vn/Phong-su/Vu-an-Huong-Cang-Ky-cuoi-Cuoc-vuot-bien-than-ky/70012492/262/
  29. ^ Thông qua Tống Khánh Linh, ông móc nối được với Jean Vaillant-Couturier (ủy viên trung ương Đảng Cộng sản Pháp và cũng là đồng chí cũ); qua người Pháp này mà ông có liên lạc được với Đảng Cộng sản Trung Quốc.
  30. ^ Bác Hồ - hồi kí, NXB Văn học, trang 98, 99, phần kể của Nguyễn Lương Bằng.
  31. ^ Ho Chi Minh - A Life, William Duiker, tr. 228.
  32. ^ Nơi làm việc của ông trong thời kì này là Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa (phần lớn người cộng sản Việt Nam khi qua Liên Xô được bố trí vào học và làm việc tại viện này)
  33. ^ Bác Hồ - hồi kí, NXB Văn học, 2004, trang 167-176.
  34. ^ Hochiminh: The missing years, 1919-1941, Sophie Quinn-Judge, 2002, C. Hurst & Co, tr.253
  35. ^ Trích dẫn và dịch lại từ Vietnamese Communism 1925-1945, Huỳnh Kim Khánh, Cornell University Press, 1982, USA).
  36. ^ Bác Hồ - hồi kí, NXB Văn Học và Ho Chi Minh - A Life, William Duiker, tr. 232, 236, 237.
  37. ^ Ngoài ra, ông còn biên dịch và phiên dịch tiếng nước ngoài cho Cộng sản Trung Hoa, cũng như theo dõi các chương trình phát thanh bằng tiếng Anh.
  38. ^ Bác Hồ - hồi kí, NXB Văn Học, 2004, trang 200, phần do Vũ Anh kể lại.
  39. ^ Bác Hồ - hồi kí, NXB Văn học, 2004 cho biết Võ Nguyên Giáp (thời kì này được phân công làm tại tờ Notre Voix) nói rằng ông và nhiều người khác đều hiểu bút danh đó là của Nguyễn Ái Quốc.
  40. ^ Bác Hồ - hồi kí, NXB Văn Học, 2004

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]