Hoắc Quang
Hoắc Quang (giản thể: 霍光; bính âm: Huo Guang , ?-68 TCN), tự Tử Mạnh (giản thể: 子孟; bính âm: Zimeng ) là một nhà chính trị thời Tây Hán làm quan dưới triều Hán Vũ Đế và là phụ chính đại thần thời Hán Chiêu Đế, Xương Ấp Vương và Hán Tuyên Đế. Trong thời gian làm phụ chính đại thần, Hoắc Quang là nhân vật có quyền lực lớn nhất trong triều đình nhà Hán, ông chính là người đứng ra phế bỏ ngôi vua của Xương Ấp Vương để đưa Lưu Tuân lên ngôi Hán Tuyên Đế. Tuy là quyền thần trong triều nhưng Hoắc Quang đã không lạm dụng quyền lực, lấn áp vua và văn võ bá quan, thay vào đó ông hết lòng phục vụ để giữ vững sự ổn định và thịnh vượng của triều đình và đất nước. Ông được coi là một trong những phụ chính đại thần nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Quốc, xếp ngang hàng với Y Doãn, Chu Công, Gia Cát Lượng hay Trương Cư Chính sau này. Họ Hoắc dưới thời Hoắc Quang trở thành lực lượng ngoại thích có quyền lực lớn, sau khi Hoắc Quang qua đời, họ Hoắc đã bị Hán Tuyên Đế trừ bỏ, các con trai của Hoắc Quang đều bị bắt chém hoặc buộc tự sát. Hoắc Quang có một người anh cùng cha khác mẹ là Hoắc Khứ Bệnh, danh tướng chống Hung Nô của Hán Vũ Đế.
[sửa] Tiểu sử
Hoắc Quang là người Bình Dương (nay là Lâm Phần, Sơn Tây). Sử sách ghi lại ông vốn là người cao to, da trắng, lông mi thưa đẹp, râu đẹp, được coi là mĩ nam tử đương thời (美男子). Cha của Hoắc Quang là Hoắc Trọng Nhụ, huyện lại Bình Dương, ông còn có một người con riêng với Vệ phu nhân là Hoắc Khứ Bệnh, sau này trở thành danh tướng chống Hung Nô thời Hán Vũ Đế.
Giai đoạn đầu trong sự nghiệp quan trường của Hoắc Quang ít được ghi lại, chỉ biết rằng cho tới năm 88 TCN, tức cuối thời Hán Vũ Đế, Hoắc Quang đã có làm tới chức Phụ xạ đô úy (奉車都尉) và Quang lộc đại phụ (光祿大夫). Năm 87 TCN trước khi qua đời, Hán Vũ Đế chọn con út Lưu Phất Lăng khi đó mới 7 tuổi lên ngôi, tức Hán Chiêu Đế, đồng thời cử Hoắc Quang, Tả tướng quân Thượng Quan Kiệt và Xa kị tướng quân gốc Hung Nô là Kim Nhật Di (Jin Midi) làm ba đại thần phụ chính cho con trai mình. Trong ba người này thì Đại tư mã kiêm Đại tướng quân Hoắc Quang là người có quyền lực lớn nhất, ông nắm hầu như mọi quyết định quan trọng của triều đình và giúp cho nhà Hán tiếp tục ổn định dù vua Chiêu Đế vẫn còn rất nhỏ tuổi. Do là con út của Vũ Đế nhưng lại được chọn làm vua nên Chiêu Đế gặp phải rất nhiều âm mưu làm phản đến từ các anh trai của ông. Năm 85 TCN, mâu thuẫn quyền lực giữa Hoắc Quang và Thượng Quan Kiệt bắt đầu lên cao sau khi phụ chính đại thần thứ 3 là Kim Nhật Di qua đời bất chấp việc Hoắc Quang và Thượng Quang Kiệt là hai nhà thông gia khi con trai Thượng Quang Kiệt là Thượng Quan An lấy con gái Hoắc Quang, con gái của hai người sau này trở thành Thượng Quan hoàng hậu, vợ của Chiêu Đế. Tới năm 80 TCN, Thượng Quan Kiệt tổ chức mưu phản nhằm đưa Yên vương Lưu Đán lên làm hoàng đế, Thượng Quan Kiệt cùng Ngạc Ấp công chúa, chị gái Chiêu Đế, và Tang Hoằng Dương âm mưu vu cáo Hoắc Quang tội phản nghịch rồi ra tay đảo chính lật đổ Chiêu Đế. Kế hoạch này của Thượng Quan Kiệt đã không qua được mắt vị hoàng đế trẻ Chiêu Đế và kết cục là cả Lưu Đán và Ngạc Ấp công chúa đều bị bắt tự vẫn, nhà Thượng Quan bị xử tru di tam tộc. Sau vụ mưu phản của Lưu Đán, Hoắc Quang chính thức trao lại quyền trị vì đất nước cho Chiêu Đế và phụ giúp ông duy trì sự cai trị của triều đình nhà Hán. Hoắc Quang đã đề xuất nhiều chính sách quan trọng như đại xá thiên hạ, cổ vũ nông nghiệp, quay trở lại chính sách hòa thân để hòa hoãn với Hung Nô nhằm khôi phục lại nền kinh tế đất nước sau những năm chinh chiến liên tục của Vũ Đế. Tài năng của Hoắc Quang đã giúp thời Chiêu Đế và Tuyên Đế sau này được gọi là "Chiêu Tuyên trung hưng" (昭宣中兴) vốn thái bình và thịnh vượng không thua thời Văn Đế, Cảnh Đế.
Năm 74 TCN, Hán Chiêu Đế qua đời khi mới 21 tuổi mà chưa có hoàng tử nối ngôi. Mặc dù Chiêu Đế vẫn còn một số người anh nhưng Hoắc Quang quyết định chọn một người cháu xa của Chiêu Đế là Xương Ấp Vương Lưu Hạ nối ngôi. Sử sách ghi lại rằng, Lưu Hạ về Trường An làm vua có 27 ngày mà đã gây ra 1127 việc xấu xa làm rối loạn triều đình. Đứng trước tình hình này, Hoắc Quang đã đưa ra một quyết định chưa từng có trong lịch sử phong kiến Trung Quốc, đó là đứng đầu đại thần phế ngôi vua của Xương Ấp vương để lập Lưu Tuân, cháu bốn đời của Vũ Đế lên ngôi, tức Hán Tuyên Đế.
Năm 73 TCN sau khi ổn định việc lên ngôi của Tuyên Đế, Hoắc Quang xin từ chức phụ chính nhưng không được hoàng đế chấp nhận, trái lại vua còn ra lệnh rằng mọi vấn đề quan trọng phải đưa cho Hoắc Quang xem qua trước khi tấu lên vua. Tuyên Đế cũng trao nhiều chức quan to cho họ Hoắc trong đó có Hoắc Vũ, con trai của Hoắc Quang, Hoắc Vân, cháu trai của Hoắc Quang và Hoắc Sơn, cháu trai của Hoắc Khứ Bệnh. Năm 71 TCN, vợ của Hoắc Quang là Hiển (顯) đã âm mưu đầu độc hoàng hậu Hứa Bình Quân của Tuyên Đế nhằm đưa con gái mình là Hoắc Thành Quân thay vào vị trí đó. Tới năm 70 TCN thì Thành Quân chính thức được Tuyên Đế chọn làm Hoắc hoàng hậu.
Năm 68 TCN, Hoắc Quang lâm bệnh qua đời. Để tỏ lòng kính trọng với viên phụ chính đại thần của ba đời vua, Tuyên Đế và Thượng Quan thái hoàng thái hậu đã ngự giá dự lễ tang của Hoắc Quang, một hành động gần như chưa từng xảy ra trong các đời phong kiến Trung Quốc. Sau khi Hoắc Quang qua đời, con cháu nhà họ Hoắc tiếp tục được giữ các vị trí quan trọng trong triều đình nhà Hán và bắt đầu tỏ ra lộng hành. Năm 67 TCN, Tuyên Đế chọn Lưu Thích, tức Hán Nguyên Đế sau này, lên ngôi thái tử, việc này nằm ngoài mong muốn của Hoắc gia vì Lưu Thích là con trai của Hứa Bình Quân, hoàng hậu xấu số của Tuyên Đế chứ không phải con trai của Hoắc hoàng hậu. Vì vậy nhà họ Hoắc quyết định cùng với Hoắc hoàng hậu âm mưu đầu độc Lưu Thích. Năm 66 TCN, âm mưu của Hoắc gia bị phát giác cùng với nguyên nhân thật sự cái chết của Hứa Bình Quân, lập tức nhà họ Hoắc bị tru di tam tộc, Hoắc hoàng hậu cũng bị phế truất và cuối cùng bị Tuyên Đế bắt tự sát. Tư Mã Quang trong sách Tư trị thông giám sau này đã chỉ trích quyết định của Tuyên Đế, ông cho rằng đây là quyết định quá tàn nhẫn nếu so với những đóng góp to lớn của Hoắc Quang. Mặc dù vậy về sau Tuyên Đế vẫn tỏ lòng tưởng nhớ tới Hoắc Quang, năm 51 TCN ông cho vẽ tranh chân dung 11 công thần để treo trong cung, người xếp đầu tiên trong danh sách là Hoắc Quang, dưới chân dung ông Tuyên Đế ưu ái chỉ đề Họ mà không đề tên.
[sửa] Nhận xét
Những đóng góp của Hoắc Quang đã giúp ông có được một vị trí đặc biệt trong lịch sử Trung Quốc. Ông được coi là một trong những phụ chính đại thần nổi tiếng nhất, sánh ngang với Y Doãn đời nhà Thương, Chu Công đời nhà Chu, Gia Cát Lượng đời Thục Hán hay Trương Cư Chính đời nhà Minh. Ông được nhiều người đánh giá cao vì sự tận tụy, sáng suốt và quyết đoán trong thời gian phụ chính, đặc biệt là hành động chưa từng có trong lịch sử phong kiến Trung Quốc phế vua xấu để lập vua khác. Tuy nhiên nhiều nhà sử học phong kiến cũng cho rằng Hoắc Quang là người độc đoán, lại ưu ái họ hàng, đây chính một phần lý do khiến nhà họ Hoắc gặp tai họa sau khi ông qua đời. Nhiều quyền thần sau này cũng mượn danh học theo Hoắc Quang để phụ chính rồi lạm quyền lấn áp vua, thậm chí là cướp lấy ngôi báu như Vương Mãng cuối đời Tây Hán. Sau này người đời có câu "làm việc Y, Hoắc" (行伊霍之事; Hành Y Hoắc chi sự) ý chỉ làm việc phế lập như Hoắc Quang, Y Doãn, ngay câu nói này cũng bị hiểu theo nhiều nghĩa vì tuy Y Doãn nổi tiếng trong vai trò phụ chính nhưng sách Trúc thư kỉ niên lại ghi lại rằng Y Doãn là người chuyên quyền, tự tiện phế lập theo ý riêng của mình. Việc Hoắc Quang là quyền thần hay hiền thần cho đến nay vẫn là điều tranh cãi trong giới học giả, tuy nhiên không thể phủ nhận rằng dưới thời Hoắc Quang làm phụ chính, triều đình Tây Hán ổn định, kinh tế phát triển và xã hội thịnh vượng không thua kém gì thời Văn Đế, Cảnh Đế trước đó.