| Hoa hậu Hoàn vũ 2011 |
 |
| Ngày |
12 tháng 9 năm 2011 |
| Dẫn chương trình |
Natalie Morales, Andy Cohen, Jeannie Mai, Shandi Finnessey |
| Địa điểm |
Credicard Hall,[1] São Paulo, Brasil |
| Truyền thông |
NBC, Telemundo |
| Tham dự |
89[2] |
| Bỏ cuộc |
Na Uy, Zambia |
| Trở lại |
Quần đảo Cayman, Chile, Estonia, Montenegro, Bồ Đào Nha, St. Lucia, Quần đảo Turks và Caicos, Việt Nam |
| Người chiến thắng |
Leila Lopes |
| Đại diện cho |
Angola |
| Hoa hậu thân thiện |
Nikolina Loncar |
| Hoa hậu ảnh |
Ronnia Fornstedt |
Hoa hậu Hoàn Vũ 2011, lễ kỷ niệm thứ 60 của cuộc thi Miss Universe, đã được tổ chức tại São Paulo, Brasil vào ngày 12 tháng 9 năm 2011 tại The Credicard Hall. Người chiến thắng là Leila Lopes đến từ Angola.
Các kết quả [sửa]
Các vị trí [sửa]
| Các kết quả |
Thí sinh |
| Hoa hậu Hoàn vũ 2011 |
|
| Á hậu 1 |
|
| Á hậu 2 |
|
| Á hậu 3 |
|
| Á hậu 4 |
|
| Top 10 |
|
| Top 16 |
|
- Được bình chọn bởi những người hâm mộ
Các giải thưởng đặc biệt [sửa]
| Giải thưởng |
Thí sinh |
| Hoa hậu Thân thiện |
|
| Hoa hậu Ảnh |
|
| Trang phục truyền thống đẹp nhất |
|
Nhạc nền [sửa]
- Phần mở đầu: Super Bass bởi Nicki Minaj, Run The World (Girls) bởi Beyonce Knowles
- Phần thi áo tắm: Locomotion bởi Claudia Leitte (Trình diễn trực tiếp)
- Phần thi trang phục dạ hội: Close Your Eyes bởi Bebel Gilberto (Trình diễn trực tiếp)
Các giám khảo [sửa]
Giám khảo đêm chung kết [sửa]
- Hélio Castroneves
- Connie Chung
- Isabeli Fontana
- Vivica A. Fox
- Adrienne Maloof
- Lea Salonga
- Amelia Vega
- Manny Pacquiao
Giám khảo đêm phúc khảo [sửa]
- Ana Paula Junqueira[3]
- BJ Coleman[4]
- Francesca Romana Diana[5]
- Jimmy Nguyen[6]
- Lara Spotts[7]
- Matheus Mazzafera[8]
- Scott Lazerson[9]
Thí sinh tham dự [sửa]
| Nước |
Tên Thí Sinh |
Tuổi |
Chiều Cao |
Quê Quán |
Albania |
Xhesika Berberi |
24 |
1,75 m (5 ft 9 in) |
Shkodër |
Angola |
Leila Lopes |
25 |
1,79 m (5 ft 10 1⁄2 in) |
Benguela |
Argentina |
Natalia Rodríguez |
24 |
1,74 m (5 ft 8 1⁄2 in) |
Buenos Aires |
Aruba |
Gillain Berry |
24 |
1,75 m (5 ft 9 in) |
Oranjestad |
Úc |
Scherri-Lee Briggs |
20 |
1,75 m (5 ft 9 in) |
Perth |
Bahamas |
Anastagia Pierre |
22 |
1,78 m (5 ft 10 in) |
Nassau |
Bỉ |
Justine de Jonckheere |
18 |
1,73 m (5 ft 8 in) |
Wevelgem |
Bolivia |
Olivia Pinheiro |
27 |
1,74 m (5 ft 8 1⁄2 in) |
Santa Cruz |
Botswana |
Larona Kgabo |
25 |
1,73 m (5 ft 8 in) |
Gaborone |
Brasil |
Priscila Machado |
25 |
1,76 m (5 ft 9 1⁄2 in) |
Farroupilha |
Quần đảo Virgin (Anh) |
Sheroma Hodge |
26 |
1,75 m (5 ft 9 in) |
Road Town |
Canada |
Chelsae Durocher |
20 |
1,75 m (5 ft 9 in) |
Tecumseh |
Quần đảo Cayman |
Cristin Alexander |
23 |
1,82 m (5 ft 11 1⁄2 in) |
George Town |
Chile |
Vanessa Ceruti |
25 |
1,78 m (5 ft 10 in) |
Santiago |
Trung Quốc |
La Tử Lâm |
24 |
1,82 m (5 ft 11 1⁄2 in) |
Thượng Hải |
Colombia |
Catalina Robayo |
22 |
1,74 m (5 ft 8 1⁄2 in) |
Cali |
Costa Rica |
Johanna Solano |
21 |
1,73 m (5 ft 8 in) |
Escazu |
Croatia |
Natalija Prica |
22 |
1,76 m (5 ft 9 1⁄2 in) |
Zagreb |
Curaçao |
Evanlia van Putten |
18 |
1,81 m (5 ft 11 1⁄2 in) |
Willemstad |
Síp |
Andri Karantoni |
18 |
1,71 m (5 ft 7 1⁄2 in) |
Larnaca |
Cộng hòa Séc |
Jitka Nováčková |
19 |
1,75 m (5 ft 9 in) |
České Budějovice |
Đan Mạch |
Sandra Amer |
21 |
1,71 m (5 ft 7 1⁄2 in) |
Copenhagen |
Cộng hòa Dominica |
Dalia Fernández |
19 |
1,79 m (5 ft 10 1⁄2 in) |
Santiago |
Ecuador |
Claudia Schiess |
21 |
1,72 m (5 ft 7 1⁄2 in) |
Santa Cruz |
Ai Cập |
Sara El-Khouly |
23 |
1,73 m (5 ft 8 in) |
Alexandria |
El Salvador |
Mayra Aldana |
24 |
1,70 m (5 ft 7 in) |
San Salvador |
Estonia |
Madli Vilsar |
20 |
1,80 m (5 ft 11 in) |
Kuresaare |
Phần Lan |
Pia Pakarinen |
20 |
1,70 m (5 ft 7 in) |
Vantaa |
Pháp |
Laury Thilleman |
20 |
1,79 m (5 ft 10 1⁄2 in) |
Brest |
Gruzia |
Eka Gurtskaia |
25 |
1,81 m (5 ft 11 1⁄2 in) |
Tbilisi |
Đức |
Valeria Bystritskaia |
25 |
1,76 m (5 ft 9 1⁄2 in) |
Kalsruhe |
Ghana |
Yayra Erica Nego |
26 |
1,72 m (5 ft 7 1⁄2 in) |
Accra |
Anh Quốc |
Chloe-Beth Morgan |
25 |
1,70 m (5 ft 7 in) |
Cwmbran |
Hy Lạp |
Iliana Papageorgiou |
20 |
1,77 m (5 ft 9 1⁄2 in) |
Patra |
Guam |
Sayna Jo Afaisen |
23 |
1,65 m (5 ft 5 in) |
Inaraian |
Guatemala |
Alejandra Barillas |
25 |
1,77 m (5 ft 9 1⁄2 in) |
Zacapa |
Guyana |
Kara Lord |
23 |
1,73 m (5 ft 8 in) |
Georgetown |
Haiti |
Anedie Azael |
22 |
1,77 m (5 ft 9 1⁄2 in) |
Port-au-Prince |
Honduras |
Suzette Gomez |
22 |
1,70 m (5 ft 7 in) |
Cortés |
Hungary |
Betta Lipcsei |
23 |
1,72 m (5 ft 7 1⁄2 in) |
Szarvas |
Ấn Độ |
Vasuki Sunkavali |
26 |
1,73 m (5 ft 8 in) |
Hyderabad |
Indonesia |
Nadine Ames |
20 |
1,70 m (5 ft 7 in) |
Jakarta |
Ireland |
Aoife Hannon |
19 |
1,78 m (5 ft 10 in) |
Listowel |
Israel |
Kim Edri |
18 |
1,75 m (5 ft 9 in) |
Sderot |
Ý |
Elisa Torrini |
22 |
1,80 m (5 ft 11 in) |
Roma |
Jamaica |
Shakira Martin |
25 |
1,73 m (5 ft 8 in) |
Kingston |
Nhật Bản |
Maria Kamiyama |
23 |
1,69 m (5 ft 6 1⁄2 in) |
Tokyo |
Kazakhstan |
Valeriya Aleinikova |
22 |
1,75 m (5 ft 9 in) |
Almaty |
Hàn Quốc |
Jung So-ra |
20 |
1,71 m (5 ft 7 1⁄2 in) |
Seoul |
Kosovo |
Aferdita Dreshaj |
25 |
1,81 m (5 ft 11 1⁄2 in) |
Pristina |
Liban |
Yara Khoury-Mikhael |
19 |
1,76 m (5 ft 9 1⁄2 in) |
Beirut |
Malaysia |
Deborah Priya Henry |
26 |
1,75 m (5 ft 9 in) |
Kuala Lumpur |
Mauritius |
Laetitia Darche |
20 |
1,75 m (5 ft 9 in) |
Flic en Flac |
México |
Karin Ontiveros |
22 |
1,80 m (5 ft 11 in) |
Amatitán |
Montenegro |
Nikolina Loncar |
18 |
1,78 m (5 ft 10 in) |
Pljevlja |
Hà Lan |
Kelly Weekers |
21 |
1,80 m (5 ft 11 in) |
Maastricht |
New Zealand |
Priyani Puketapu |
20 |
1,73 m (5 ft 8 in) |
Wellington |
Nicaragua |
Adriana Dorn |
24 |
1,75 m (5 ft 9 in) |
Managua |
Nigeria |
Sophie Gemal |
22 |
1,72 m (5 ft 7 1⁄2 in) |
Abuja |
Panama |
Sheldry Sáez |
19 |
1,73 m (5 ft 8 in) |
Chitré |
Paraguay |
Alba Riquelme |
20 |
1,80 m (5 ft 11 in) |
Asunción |
Peru |
Natalie Vertíz |
19 |
1,83 m (6 ft 0 in) |
Lima |
Philippines |
Shamcey Supsup |
25 |
1,71 m (5 ft 7 1⁄2 in) |
General Santos |
Ba Lan |
Rozalia Mancewicz |
24 |
1,75 m (5 ft 9 in) |
Bialystok |
Bồ Đào Nha |
Laura Goncalves |
22 |
1,75 m (5 ft 9 in) |
Lisbon |
Puerto Rico |
Viviana Ortiz |
24 |
1,75 m (5 ft 9 in) |
Corozal |
Romania |
Larisa Popa |
24 |
1,75 m (5 ft 9 in) |
Slatina |
Nga |
Natalia Gantimurova |
19 |
1,81 m (5 ft 11 1⁄2 in) |
Moskva |
Serbia |
Anja Šaranović |
22 |
1,78 m (5 ft 10 in) |
Belgrade |
Singapore |
Valerie Lim |
25 |
1,8 m (5 ft 11 in) |
Singapore |
Slovakia |
Dagmar Kole sárová |
20 |
1,78 m (5 ft 10 in) |
Revúca |
Slovenia |
Ema Jagodic |
21 |
1,76 m (5 ft 9 1⁄2 in) |
Ljublijana |
Nam Phi |
Bokang Montjane |
24 |
1,72 m (5 ft 7 1⁄2 in) |
Johannesburg |
Tây Ban Nha |
Paula Guilló |
22 |
1,81 m (5 ft 11 1⁄2 in) |
Elche |
Sri Lanka |
Setphanie Siriwardhana |
23 |
1,68 m (5 ft 6 in) |
Colombo |
Saint Lucia |
Joy-Ann Biscette |
25 |
1,73 m (5 ft 8 in) |
Castries |
Thụy Điển |
Ronnia Fornstedt |
20 |
1,79 m (5 ft 10 1⁄2 in) |
Södertälje |
Thụy Sĩ |
Kerstin Cook |
22 |
1,80 m (5 ft 11 in) |
Kriens |
Tanzania |
Nelly Kamwelu |
18 |
1,72 m (5 ft 7 1⁄2 in) |
Dar Es Salaam |
Thái Lan |
Chanyasorn Sakornchan |
20 |
1,72 m (5 ft 7 1⁄2 in) |
Chonburi |
Trinidad và Tobago |
Gabrielle Walcott |
27 |
1,70 m (5 ft 7 in) |
Port of Spain |
Thổ Nhĩ Kỳ |
Melisa Asli Pamuk |
20 |
1,76 m (5 ft 9 1⁄2 in) |
Istanbul |
Turks & Caicos |
Easher Parker |
19 |
1,68 m (5 ft 6 in) |
Providenciales |
Ukraina |
Olesya Stefanko |
22 |
1,74 m (5 ft 8 1⁄2 in) |
Odessa |
Uruguay |
Fernanda Semino |
18 |
1,68 m (5 ft 6 in) |
Montevideo |
Hoa Kỳ |
Alyssa Campanella |
21 |
1,72 m (5 ft 7 1⁄2 in) |
Los Angeles |
Quần đảo Virgin (Mỹ) |
Alexandrya Evans |
25 |
1,65 m (5 ft 5 in) |
Saint Croix |
Venezuela |
Vanessa Gonçalves |
25 |
1,77 m (5 ft 9 1⁄2 in) |
Caracas |
Việt Nam |
Vũ Thị Hoàng My |
22 |
1,73 m (5 ft 8 in) |
Đồng Nai |
Các chú ý từ các cuộc thi quốc gia [sửa]
Những quốc gia và vùng lãnh thổ tham dự trở lại [sửa]
Những gương mặt quen thuộc [sửa]
Những thí sinh tham dự ít nhất một cuộc thi quốc tế bên cạnh Hoa hậu Hoàn vũ 2011:
Các chú ý khác từ cuộc thi [sửa]
Ghi nhận lịch sử [sửa]
- Angola Leila Lopes là Hoa hậu Hoàn vũ đầu tiên đến từ Angola và trở thành người phụ nữ da đen thứ hai đến từ Châu Phi chiến thắng trong cuộc thi.
- Năm 2011 lập kỷ lục về số thí sinh tham dự với 89 người đẹp.
- Không có phần nhảy mở màn khi bắt đầu cuộc thi. Tuy nhiên các thí sinh đã tự giới thiệu về bản thân với khán giả xem trực tiếp. Phần mở màn trực tiếp được sử dụng lần cuối vào năm 1997.
- Lần đầu tiên có 16 thí sinh vào bán kết trong đó có một thí sinh được vào bán kết nhờ những ngừơi hâm mộ qua mạng Internet. Bồ Đào Nha là ngừơi sở hữu nhiều phiếu bầu nhất.
- Úc có mặt ở vòng bán kết trong 4 năm.
- Pháp có mặt ở vòng bán kết trong 3 năm.
- Bồ Đào Nha vào bán kết lần đầu tiên.
- Angola, Bồ Đào Nha và Ukraine đạt được vị trí cao nhất trong lịch sử cuộc thi.
- Philippines và Ukraine vào đến vòng chung kết trong 2 năm liên tiếp.
- Các quốc gia có mặt ở vòng bán kết trong năm trước là Úc, Colombia, Pháp, Philippines, Puerto Rico và Ukraine
- Montenegro chiến thắng giải Hoa hậu Thân thiện lần đầu tiên.
- Thuỵ Điển chiến thắng giải Hoa hậu Ảnh lần thứ 3, lần trước là năm 1995.
- Panama chiến thắng trong phần thi Trang phục truyền thống 4 lần, lần trước là năm 2009.
- Hà Lan lần cuối vào bán kết là năm 1992.
- Trung Quốc lần cuối vào bán kết là năm 2002
- Panama lần cuối vào bán kết là năm 2003.
- Costa Rica lần cuối vào bán kết là năm 2004.
- Angola và Brazil lần cuối vào bán kết là năm 2007.
- Kosovo, Mỹ và Venezuela lần cuối vào bán kết là năm 2009.
- Số điểm trung bình của các giám khảo không được hiển thị trong đêm chung kết, tuy nhiên điểm của các fan hâm mộ được thể hiện, nơi mà những người hâm mộ có thể bình chọn trực tuyến.
Thay thế [sửa]
Curaçao: Evanlina van Putten thay thế cho Monifa Jansen bởi Monifa chưa đủ tuổi tham dự Hoa Hậu Hoàn Vũ. Monifa sinh vào tháng 3/1993.
El Salvador: Mayra Aldana thay thế cho Alejandra Ochoa vì cô này đang bị bệnh hô hấp mãn tính nên không thể tham gia cuộc thi.
Được chỉ định [sửa]
Ai Cập: Sara El-Khouly đại diện cho Ai Cập vì không có cuộc thi sắc đẹp quốc gia nào được tổ chức bởi cuộc khủng hoảng chính trị ở nước này. Trước đó cô là Hoa hậu Thế giới Ai Cập 2010.
Hy Lạp: Iliana Papageorgiou được chỉ định bởi tổ chức Star Hellas để đại diện cho Hy Lạp tại cuộc thi. Cuộc thi sắc đẹp Star Hellas hằng năm ở nước này hiện chưa có lịch cho đến khoảng tháng 9.
Guatemala: Alejandra Barillas đã được chỉ định là Hoa hậu Hoàn Vũ Guatemala 2011 trong một buổi lễ đặc biệt. Lẽ ra cô đã tham dự Hoa hậu Hoàn vũ 2010 nhưng không thể vì bị thương. Một trong những Á Hậu Guatemala năm đó là Jessica Scheel đã thay thế cô và lọt vào Top 10.
Montenegro: Nicolina Loncar được chỉ định đi thi năm nay, vì năm ngoái cô chưa đủ tuổi thi Hoa hậu Hoàn vũ.
Việt Nam: Vũ Thị Hoàng My đại diện cho Việt Nam bởi BTC đã không thể tổ chức cuộc thi Hoa Hậu Hoàn Vũ Việt Nam năm nay. Quyết định được đưa ra bởi Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa - Thể Thao và Du Lịch Việt Nam., người duy nhất có quyền cho phép thí sinh Việt Nam đi thi bất kỳ cuộc thi quốc tế nào.
Bỏ cuộc [sửa]
Truyền thông Quốc tế [sửa]
Tham khảo [sửa]
Liên kết ngoài [sửa]