Huyết tương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Huyết tương (plasma) là một trong hai thành phần chính của mô máu, là dịch chứa các thành phần hữu hình và hòa tan rất nhiều protein, hormone và các chất khác.

Thành phần[sửa | sửa mã nguồn]

Huyết tương chứa 90% nước về thể tích, 10% còn lại là các chất tan như: protein huyết tương, các thành phần hữu cơ và muối vô cơ v.v.

Protein huyết tương[sửa | sửa mã nguồn]

Huyết tương chứa rất nhiều protein hòa tan chiếm 7% về thể tích, trong đó các protein quan trọng nhất là:

  • Albumin: Là loại protein huyết tương phổ biến nhất (3,5-5g/dL máu) và là yếu tố chính gây ra áp suất thẩm thấu (osmotic pressure) của máu. Các chất chỉ hòa tan một phần hoặc không hòa tan trong nước được vận chuyển trong huyết tương bằng cách liên kết với Albumin.
  • Globulin: Alpha, beta, gamma là những protein hình cầu hòa tan trong huyết tương. Gamma protein gồm có các kháng thể hay immonuglobulin được tổng hợp bởi tương bào.
  • Fibrinogen: Protein này được biến đổi thành fibrin bởi các enzyme liên kết với máu trong quá trình cầm máu. Fibrinogen được tổng hợp và chế tiết ở gan.

Các hợp chất hữu cơ khác[sửa | sửa mã nguồn]

Các hợp chất hữu cơ khác trong huyết tương gồm có các chất dinh dưỡng như: amino acid, glucose, vitamin và một số loại peptide điều hòa, steroid hormonelipide.

  • Các muối khoáng:Muối khoáng chiếm 0.9 g/o về thể tích bao gồm các muối điện ly như Na, K, Ca v.v.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]