IS (Infinite Stratos)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
IS <Infinite Stratos>
IS (Infinite Stratos) Vol01 Cover.jpg
Trang bìa IS <Infinite Stratos> tập đầu tiên được đăng bởi Media Factory
IS〈インフィニット・ストラトス〉
(IS <Infinitto Sutoratosu>)
Thể loại Science fiction, Romance, Comedy, Harem, Mecha
Light novel
Tác giả Izuru Yumizuru
Minh họa Okiura
Nhà xuất bản Media Factory
Đối tượng độc giả Nam giới
Nhãn hiệu MF Bunko J
Phát hành 31 tháng 5, 2009ongoing
Số tập 7 (danh sách)
Manga
Minh họa Kenji Akahoshi
Nhà xuất bản Media Factory
Đối tượng độc giả Seinen
Tạp chí Monthly Comic Alive
Phát hành 27 tháng 5, 2010ongoing
Số tập 2
TV anime
Đạo diễn Yasuhito Kikuchi
Kịch bản Fukihiko Shimo
Soạn nhạc Hikaru Nanase
Hãng phim 8-Bit
Cấp phép Cờ của Canada Cờ của Hoa Kỳ Sentai Filmworks
Network TBS, Chubu-Nippon Broadcasting, Sun Television, KBS Kyoto, BS-i
Kênh tiếng Anh Cờ của Canada Cờ của Hoa Kỳ Anime Network
Phát sóng 6 tháng 1, 201131 tháng 3, 2011
Số tập 12 (Danh sách)
Biểu tượng chủ đề Chủ đề Anime và Manga

IS <Infinite Stratos> (IS〈インフィニット・ストラトス〉 IS <Infinitto Sutoratosu>?) là một light novel series của Nhật bản được viết bởi Izuru Yumizuru và được minh họa bởi hãng Okiura. Tới tháng Tư năm 2011, 7 volumes đã được công bố bởi Media Factory dưới nhãn MF Bunko J của họ. Một manga đăng bởi Kenji Akahoshi bắt đầu tuần tự trong seinen manga magazine Monthly Comic Alive từ ngày 27 tháng 5, 2010. Anime đã được chiếu ở Nhật Bản từ ngày 1 tháng 6 đến ngày 31 tháng 3, 2011.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tương lai, một nhà khoa học Nhật Bản đã phát minh ra 1 bộ giáp hỗ trợ gọi là "Infinite Stratos" (IS). Hiện đại và có khả năng chiến đấu tiên tiến hơn bất cứ loại vũ khí nào, IS là một mối đe dọa sẽ làm mất cân bằng thế giới. Đối mặt với 1 thứ vũ khí quá mạnh, các nước trên thế giới đã ký "Hợp đồng Alaska", nói rằng IS sẽ không bao giờ sử dụng trong quân sự và công nghệ IS sẽ được công bố khắp thế giới, để cấm bất cứ nước nào xâm lược nước khác. Sự giới thiệu của IS gây nên 1 ảnh hưởng lớn tới cộng đồng. Vì IS chỉ có thể điều khiển bởi phụ nữ, sự cân bằng nam nữ bị phá vỡ, vai trò của phụ nữ quan trọng hơn đàn ông.

Mười năm sau khi IS đầu tiên được công bố,thế giới đã tiến vào 1 kỷ nguyên hòa bình. Tuy nhiên,hòa bình đó sớm tan vỡ bởi một phát hiện không thể ngờ. Một thiếu niên người Nhật 15 tuổi,tên là Ichika Orimura, được phát hiện rằng có khả năng điều khiển 1 IS. Nhận ra tiềm năng của cậu, bị chính phủ Nhật ép buộc,Ichika phải nhập học Học Viện Infinite Stratos uy tín, một trường học quốc tế nơi các phi công IS từ khắp thế giới vào học. Và cuộc sống là 1 học sinh bận rộn của cậu bị bao quanh bởi các cô gái bắt đầu.

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật chính[sửa | sửa mã nguồn]

Ichika Orimura (織斑 一夏 Orimura Ichika?)
Lồng tiếng bởi: Kōki Uchiyama
Nhân vật chính của Infinite Stratos. Cậu là học sinh năm nhất của Học Viện IS. Chị của cậu,Chifuyu,là phi công IS huyền thoại và đồng thời là người nuôi nấng cậu khi bố mẹ bỏ rơi họ khi họ còn bé. Mặc dù chị cậu đối xử nghiêm khắc với cậu,cậu vẫn luôn yêu quý chị mình. Là nam phi công IS đầu tiên, nên cậu khá nổi tiếng với các nhà khoa học và kỹ sư đang muốn tìm hiểu về cậu. Cậu không biết là có vài cô gái có tình cảm với cậu. Cậu lái chiếc IS Byakushiki (白式? lit. White Expressions),[1] 1 IS nguyên mẫu và 1 trong 2 IS thế hệ 4 và là loại IS cận chiến. Cậu cũng sở hữu thanh kiếm Yukihira Loại 2 (雪片弐型 Yukihiria Nigata?), một phiên bản nâng cấp của thanh kiếm IS sử dụng năng lượng của chị cậu và Lõi số 001, lõi IS đầu tiên.
Về sau, Byakushiki trải qua giai đoạn Biến thể Dạng 2 sau khi Houki sở hữu Akatsubaki. Biến thể Dạng 2 có tên là Byakushiki Setsura (白式雪羅?), nó được trang bị với 1 hệ thống vũ khí đa dạng (tên là Setsura, tên của Biến thể Dạng 2), có nhiều vũ khí cơ động bao gồm 1 pháo nòng hạt tính cỡ lớn, một móng vuốt năng lượng dùng trong cận chiến, và một lá chắn năng lượng kèm với thuộc tính One Off. Ở Biến thể Dạng 2, Byakushiki cũng tăng thêm tính cơ động qua 4 cánh đẩy lớn, cho phép nó sử dụng Double Ignition Boost.Bản mẫu:Volume needed Trong Biến thể Dạng 2,nó là IS tốt nhất được làm với Akatsubaki của Houki.
Houki Shinonono (篠ノ之 箒 Shinonono Hōki?)
Lồng tiếng bởi: Yōko Hikasa
Houki là học sinh năm nhất của Học Viện IS và là bạn thuở nhỏ của Ichika, mặc dù họ không gặp nhau trong 6.[2] Cô có mái tóc đuôi ngựa rất dài.[3] Nơi cô ở là một võ đường kendo và cô đã thích Kendo khi còn nhỏ. Houki còn thi đấu Kendo và đạt đến cấp quốc tế, và là người thắng cuộc của trận đấu Kendo quốc tế được tổ chức 1 năm trước khi câu Infinite Stratos bắt đầu.[4] Cô là thành viên của Câu lạc bộ Kendo ở Học Viện. Chị của Houki, Tabane Shinonono, là người sang tạo ra IS, nhưng Houki ghét cô vì sáu năm trước, Ichika đã đồng ý trở thành bạn trai của Houki nếu cô thắng giải Kendo toàn quốc. Tuy nhiên, ngày thi đấu của giải Kendo cũng là ngày IS được công bố toàn quốc. Vì cô có mối lien hệ với, gia đình của Houki phải nằm dưới sự bảo vệ của chính phủ và cô phải rút khỏi giải Kendo toàn. Sau sự kiện đó, Houki ghét chị cô vì cô phải rời xa cậu con trai mà cô yêu và bỏ mặc gia đình.

Dù không thấy Ichika trong một thời gian dài,Houki vẫn có tình cảm với cậu, và việc tiếp tục luyện tập Kendo là mối liên kết duy nhất của cô với Ichika. Cô là bạn cùng phòng của Ichika ở trong ký túc xá trước khi Charles chuyển đến, và trở nên ghen tị khi các cô gái khác ở quanh cậu. Ban đầu cô không có IS, sau đó sở hữu và lái chiếc IS Akatsubaki (紅椿? lit. Hồng Trà), một trong hai chiếc IS thế hệ 4 và loại IS cận chiến, được trang bị với hai thanh katana tên là Amatsuki (雨月? "Rainy Moon") và Karaware (空裂? "Bầu trời vỡ vụn"). Chiếc Akatsubaki được tiết lộ rằng có một phiên bản hoàn thiện thuộc dạng lá chắn của thanh Yukihira Dạng 2 của Ichika, và có một khả năng One Off gọi là Kenran Butō (絢爛舞踏? "Điệu nhảy Lộng lẫy"), cho phép Houki bổ sung năng lượng IS của cô và IS của người khác khi cô chạm vào. Tuy nhiên, vì cô không có kỹ năng lái IS như 1 phi công và khả năng tương thích của cô với IS chỉ ở Hạng C, cô vẫn được coi rằng cô có cùng cấp độ với những cô gái.

Cecilia Alcott (セシリア オルコット Seshiria Orukotto?)
Lồng tiếng bởi: Yukana
Cecilia là học sinh năm nhất của Học Viện IS và là học sinh đại diện của nước Anh, là một Quý tộc người Anh. Cha cô là một con người nhút nhát và ảnh hưởng rất ít cả trong lẫn ngoài gia đình Alcott làm Cecilia thề rằng cô sẽ không bao giờ cưới một người đàn ông yếu đuối (Một khó khăn do sự thay đổi trong tình trạng xã hội). Cô bị mồ côi cha mẹ ba năm trước sau một tai nạn tàu hỏa và phải bảo vệ gia tài của gia đình cô khỏi những người muốn chiếm nó. Cô gần bị đánh bại bởi Ichika trong trận đấu tìm người đại diện cho lớp nhưng thắng do 1 lỗi kĩ thuật, nhưng sau đó cô đã nhường lại vị trí của cô cho Ichika. Cô sớm nhận ra cậu là một người đàn ông đích thực và yêu cậu. Cô lái chiếc IS Blue Tears (ブルー・ティアーズ Burū Tiāzu?), một IS loại bắn tỉa tầm xa, có thể triển khai 4 Drone không người lái (aka "Blue Tears", tên của IS) để tấn công kẻ địch từ tầm gần tới tầm trung. Chiếc IS "Blue Tears" được trang bị Starlight Mark III (スターライトmkIII Sutāraito mkIII?), một khẩu súng bắn tỉa Laser, và Interceptor (インターセプター Intāseputā?), một lưỡi kiếm ngắn dùng trong cận chiến. Ngoài ra IS của cô còn có 2 quả tên lửa giấu đằng sau để đánh lạc hướng đối thủ trước khi phóng chúng, 2 quả tên lửa thuộc loại tìm kiếm mục tiêu, một khi đã phóng, chúng sẽ theo mục tiêu tới khi chúng tiêu diệt được họ.
Lingyin Huang (凰 鈴音 Fan Rinin?)
Lồng tiếng bởi: Asami Shimoda
Lingyin học sinh năm nhất của Học Viện IS, học sinh đại diện của lớp cô và là học sinh đại diên của Trung Quốc. Như Houki, Lingyin là bạn của Ichika hồi họ còn. Cô đã yêu Ichika từ khi cậu bảo vệ cô khoải 4 tên côn đồ của trường. Ban đầu Lingyin rất ghét Ichika vì cậu đã quên chi tiết lời hứa của cô (là nếu cô trở thành một đầu bếp giỏi,Ichika sẽ thành bạn trai của bạn). Cô cũng được những người khác gọi là "Ling" ( Rin?), là tên gọi thân mật của cô. Gia đình cô làm trong 1 nhà hàng Trung Quốc, nơi Ichika thường đến để ăn trước khi cha mẹ cô ly hôn và về Trung Quốc. Cô lái chiếc IS Shenlong (甲龍 Shenron/Kōryū?), IS loại cận chiến từ tầm ngắn đến tầm trung với 2 khẩu "Pháo Xung kích" ẩn ở hai bên giáp vai. IS của cô cũng được trang bị Sōten Gagetsu (双天牙月?), một cặp liuyedao có thể kết hợp để tạo thành một dạng kiểu vũ khí naginata.
Charlotte Dunois (シャルロット デュノア Sharurotto Dyunoa?)
Lồng tiếng bởi: Kana Hanazawa
Charlotte là học sinh năm nhất của Học viện IS và là học sinh đại diện của nước Pháp. Khi được chuyển đến, Charlotte được biết với cái tên "Charles", "Nam" phi công IS thứ hai được chuyển đến lớp của Ichika. Mục đích thật sự của Charlotte là vào Học Viện để theo dõi Ichika và tìm hiểu tại sao cậu có thể vận hành được IS và thu thập dữ liệu từ IS của cậu (IS của cậu lúc đó được xem là IS thế hệ 3 tiên tiến nhất). Vì cô đóng vai là một nam phi công IS, cô và Ichika là bạn cùng phòng. Với kết quả của sự sắp xếp này,Ichika đã phát hiện ra giới tính thật của cô. Khi Ichika biết rằng bố của Charlotte và tập đoàn của ông sử dụng cô để theo dõi cậu, Ichika quyết định giúp bảo vệ cô. Sau đó, cô yêu Ichika vì sự dũng cảm của cậu. Cô lái chiếc IS Rafale Revive Custom II (ラファール・リヴァイヴ・カスタムII Rafāru Revaivu Kasutamu II?), một loại IS thế hệ 2 sở hữu các loại vũ khí đa tầm có thể hoán đổi cho phép IS của cô thích ứng với chiến trường nhanh và cho phép thực hiện Ignition Boost. Vũ khí của cô, khi được gọi, có thể dùng bởi các phi công IS khác.
Laura Bodewig (ラウラ ボーデヴィッヒ Raura Bōdevihhi?)
Lồng tiếng bởi: Marina Inoue
Laura là học sinh năm nhất của Học Viện IS và là học sinh đại diện của nước Đức. Một siêu chiến sĩ công nghệ di truyền, Laura là thành viện của lực lượng IS đặc biệt của Đức, Schwarzer Hase (シュヴァルツェア・ハーゼ Shuvarutsea Hāze?, Tiếng Đức của từ "Thỏ đen"), và giữ quân hàm trung úy. Cô có đôi mắt đỏ và tóc dài màu bạc, cô có đặc điểm là 1 miếng che mắt màu đen che mắt trái của cô. Mắt trái cô có màu vàng, là kết quả thất bại của thí nghiệm công nghệ máy nano để giúp cô lái IS tốt hơn. Laura dưới sự giám hộ của Chifuyu khi cô còn ở quân đội Đức, và rất mến mộ Chifuyu vì cô đã giúp Laura và là mẫu người lý tưởng của cô khi cô đang bị trầm cảm vì không phải là người mạnh nhất.[5] Nên nhớ rằng tên của cô là bí danh mà quân đội Đức cho cô và tên thật của cô vẫn chưa biết.
Mục đích của Laura khi đến Học Viện IS là để trừng phạt Ichika, cô trách Ichika vì cậu nên Chifuyu phải rút ra khỏi Giải thi đấu IS toàn quốc Lần 2. Cô không biết rằng Ichika đã bị bắt cóc và Chifuyu phải bỏ cuộc để cứu cậu. Cô dễ dàng đánh bại Ling và Cecilia nhưng gặp rắc rối khi đấu với Ichika và Charlotte và bị đánh bại bởi Charlotte trong trận đấu giữ các lớp. Trong tuyệt vọng, cô trở nên điên loạn và tấn công cả Ichika và Charlotte nhưng đã bị đánh bại bởi Ichika. Sau đó, cô nhận ra Ichika đặc biệt như thế nào và yêu cậu. Cô được biết là sức mạnh của Ichika là sự tự do được lựa chọn của cậu và giúp đỡ những người xung quanh và những lời lời khuyên của Chifuyu, Laura quyết định trở thành vệ sĩ của Ichika để bảo vệ cậu khỏi những cô gái khác bằng cách hôn cậu trước mặt các bạn trong lớp, tuyên bố rằng Ichika sẽ là vợ của cô (1 sự hiểu lầm trầm trọng về phong tục Nhật Bản của cô) và cô sẽ không chấp nhận lời đề nghị nào nữa cả. Laura lái chiếc IS Schwarzer Regen (シュヴァルツェア レーゲン Shuvarutsea Rēgen?, Có nghĩa là "Cơn mưa đen"), 1 IS loại pháo binh tấn công tầm trung tới tầm xa.

Nhân viên của Học Viện IS[sửa | sửa mã nguồn]

Chifuyu Orimura (織斑 千冬 Orimura Chifuyu?)
Lồng tiếng bởi: Megumi Toyoguchi
Chifuyu là người chị 24 tuổi của Ichika, và là giáo viên của lớp cậu tại Học Viện IS. Cô là phi công của chiếc IS thế hệ 1 và được biết là phi công mạnh nhất trước khi nghỉ hưu. Khi cô nghỉ hưu, cô chăm sóc em cô và nuôi nấng cậu sau khi bố mẹ bỏ rơi họ. Cô rất lo lắng cho Ichika và xem cậu là gia đình duy nhất của cô. Chifuyu cũng là người đưa Ichika vào Học Viện IS để giữ cho cậu an toàn khỏi các đất nước khác. Chifuyu đã từng sở hữu Yukihira, 1 thanh kiếm IS năng lượng mà Ichika bấy giờ đang sở hữu. Chifuyu là bạn thân của Tabane Shinonono, người sáng tạo ra IS, đây là lý do tại sao 2 người em của họ là bạn thuở nhỏ.
Maya Yamada (山田 真耶 Yamada Maya?)
Lồng tiếng bởi: Noriko Shitaya
Maya cũng là giáo viên của lớp Ichika. Cô từng là học sinh đại diện cho nước Nhật.

Các nhân vật khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tabane Shinonono (篠ノ之 束 Shinonono Tabane?)
Lồng tiếng bởi: Yukari Tamura
Tabane là chị của Houki và là người sáng tạo ra IS. Cô biến mất 1 cách bí ẩn sau khi giới thiệu về công nghệ IS, và các tập đoàn IS của thế giới hiện đang tìm cô. Cô là bạn thân của Chifuyu, chị của Ichika. Houki ghét cô vì những gì xảy ra với gia đình cô và Ichika 6 năm trước. Mặc dù cô thông minh, nhưng cô lại có tính cách như 1 đứa trẻ. Có vẻ vẻ thích thỏ, vì cô có đôi tai thỏ kim loại trên đầu cô và chiếc tàu hình cà rốt của cô khi cô đưa IS cho Houki.
Dan Gotanda (五反田 弾 Gotanda Dan?)
Lồng tiếng bởi: Makoto Yasumura
Dan là bạn thân của Ichika hồi họ còn học trung học.
Ran Gotanda (五反田 蘭 Gotanda Ran?)
Lồng tiếng bởi: Noriko Obato
Ran là em gái của Dan và hiện đang học trường nữ sinh. Cô học năm ba trung học và là hội trưởng hội học sinh. Ran có tình cảm với Ichika.[6]
Clarissa Harfouch (クラリッサ・ハルフォーフ Kurarissa Harufōfu?)
Lồng tiếng bởi: Kei Mizusawa
Đồng đội Laura và là chỉ huy của biệt đội Schwarzer Hase. Như Laura, cô cũng đeo một miếng bịt mắt để che mắt. Clarissa là một Otaku và thường dạy Laura về những phong tục, truyền thống của Nhật bằng Anime và, nhưng không được chính xác lắm. Cô là phi công của chiếc IS Schwarzer Zweig (シュヴァルツェア・ツヴァイク Shuvarutsea Tsuvaiku?, Tiếng Đức của từ "Chi nhánh Đen").
Natasha Fairs (ナターシャ・ファイルス Natāsha Fairusu?)
Học sinh đại diện của Mỹ. Trong phiên bản Light Novel, cô là phi công thử nghiệm của chiếc Silver Gospel (銀の福音 Shirubario Gosuperu?), một IS đồng xây dựng với Israel, nhưng khi cô đang điều khiển thì nó nổi điên và làm cô mất khả năng điều khiển. Sau đó nó đã bị ngăn chặn bởi Ichika và đông đội của cậu. Để cảm ơn vì đã cứu mạng cô, Natasha hôn Ichika vào má cậu, vô tình kéo cậu vào rắc rối với các cô gái khác. Cô không xuất hiện trong anime, vì kịch bản được đổi thành Silver Gospel là một IS không người lái.
Tatenashi Sarashiki (更識 楯無 Sarashiki Tatenashi?)
Hội trưởng Hội học sinh của Học viện IS. Cô là người phi công IS mạnh nhất của Học viện, bởi vì vị trí Hội trưởng Hội học sinh chỉ trao cho người mạnh nhất Học viện. Trong phiên bản Light Novel, cô được giao nhiệm vụ bảo vệ Ichika sau khi xảy ra sự cố Silver Gospel và dùng quyền lực Hội trưởng Hội Học sinh của cô để thành bạn cùng phòng của Ichika. Cô là người lãnh đạo thứ 17 của gia đình Sarashiki và là Học sinh đại diện của Nga. Cô là phi công của chiếc IS Mysterious Lady (ミステリアスレディ Misuteriasu Redi?).

Terminology[sửa | sửa mã nguồn]

Infinite Stratos (インフィニット・ストラトス Infinitto Sutoratosu?)
Viết tắt là IS, IS là một bộ giáp hỗ trợ công nghệ và khả năng chiến đấu cao. Ban đầu được thiết kế để hoạt động ngoài vũ trụ, bây giờ đã trở thành vũ khí chính của thế giới. IS được phân thành 2 loại: loại luyện tập và loại chuyên dụng.
Uchigane (打鉄?)
IS loại luyện tập dùng để huấn luyện học sinh của Học viện IS cách dùng IS. Hình dạng của nó giữ nguyên dù người dùng là ai đi chăng nữa.
IS Chuyên dụng
ISđặc biệt, chúng thay đổi hình dạng để hợp với người dùng. Chúng khó dùng hơn trong dạng sơ kì nhưng một khi đã hoàn thành thiết lập thông tin người dùng, các phi công sẽ dễ dàng sử dụng chúng. Sức mạnh của IS chuyên dụng vượt xa hẳn loại IS luyện tập, hỏa lực mạnh hơn, tốc độ và khả năng cơ động nhanh hơn, etc. IS chuyên dụng được chia ra thành 4 thế hệ, thế hệ này vượt xa hơn những thế hệ trước.
Lõi của IS
Chiếc Hộp đen của IS là thứ cho phép nó hoạt động. Vì chỉ có 467 lõi IS được làm ra, đa số chúng được chia đều cho chính phủ các nước, chỉ có vài phi công IS, những người hoạt động trong tổ chức hoặc tập đoàn lớn nào đó, mới có IS chuyên dụng của riêng họ.
Mondo Grosso (モンド・グロッソ Mondo Gurosso?)
Giải Thi đấu IS Toàn cầu được tổ chức 3 năm 1 lần. Người thắng cuộc của trận đấu đầu tiên là Chifuyu trong khi người thắng cuộc của trận đấu gần nhất là IS của Ý, Tempest.
Absolute Defense (Phòng thủ tuyệt đối)
Một lá chắn năng lượng bao phủ hoàn toàn 1 IS mỗi khi phi công của nó sắp bị đối phương đánh trực tiếp vào người. Nó tiêu hao rất nhiều năng lượng nhưng bù lại, nó sẽ bảo vệ phi công trong các trận đấu. Các trận đấu IS thường kết thúc mỗi khi năng lượng IS của một phi công trong trận đấu bị cạn kiệt.
Impact Cannon (Đại pháo Xung kích)
Một khẩu đại pháo thường nén không khí xung quanh nó rồi bắn ra dưới dạng đạn. Điểm đặc biệt của nó là cả nòng lẫn viên đạn đều vô hình đối với mắt thường. Đại pháo Xung kích là vũ khí đặc trưng của IS Shenlong, và được biết với cái tên Đại pháo Rồng (龍咆 Ryūhō?).
Ignition Boost
Khi sử dụng kĩ năng này, bộ phóng sẽ hấp thụ ngược trở lại toàn bộ lượng năng lượng trong 1 khoảng thời gian, nén chỗ năng lượng đấy lại, sau đó sẽ giải phóng toàn bộ lượng năng lượng vừa nén ra ngoài để tạo thành 1 lực phóng cực mạnh, giúp đẩy tốc độ của IS về phía trước rất cao để tiếp cận hoặc tránh đòn tấn công của đối phương. Ignition Boost có 1 phiên bản nâng cấp được gọi là "Double Ignition Boost".
A.I.C.
Viết tắt của từ Active Inertia Canceller (アクティブ・イナーシャル・キャンセラー Akutibu Ināsharu Kyanserā?). Một hệ thống được thiết kế để tạo từ trường để triệt tiêu quán tính chủ động của một vật thể nào đó. Nói đơn giản, nó làm bất động bất cứ thứ nào mà phi công muốn. Đây là vũ khí đặc trưng của chiếc IS Schwarzer Regen. Điểm yếu của nó là phạm vi hoạt động của nó tùy thuộc vào khu vực mà phi công có thể tập trung; nói cách khác, nó rất yếu khi đánh với nhiều kẻ thù.
Valkyrie Trace System (ヴァルキュリー・トレース・システム Varukyarī Torēsu Shisutemu?)
Được biết với tên VT System, đây là một chương trình được thiết lập nhằm để tăng sức mạnh của IS bằng cách bắt chước những người thắng cuộc thi đấu Mondo Grosso. Vì vài lí do bao gồm đến sự an toàn của phi công, việc nghiên cứu, phát triển, và ứng dụng của hệ thống này đã bị nghiêm cấm trong Hiệp ước IS.

Media[sửa | sửa mã nguồn]

Light novels[sửa | sửa mã nguồn]

Infinite Stratos bắt đầu bằng light novel, được viết bởi Izuru Yumizuru, và được minh họa bởi Okiura.[7] Volume đầu tiên được đăng bởi Media Factory dưới nhãn MF Bunko J của họ vào ngày 31 tháng 5, 2009. Tới ngày 8 tháng 4, 2011, đã có 7 volume được xuất bản.[8]

Light novel đang được dịch thành tiếng Trung Quốc truyền thống và volume đầu tiên đã được đăng và xuất bản bởi Sharp Point Press[9] vào ngày 9 tháng 11, 2010. Bản dịch Trung Quốc ban đầu là theo một sự đình chỉ vô thời hạn.[10] Yumizuru trích dẫn rằng đại diện của Media Factory ở nước ngoài tham gia vào hợp đồng với các nhà xuất bản nước ngoài mà không có sự cho phép của tác giả là lý do đình chỉ.[10] Yumizuru cũng nói rằng ông sẽ sẵn sang đấu tranh với vấn đề này ở tòa án nếu cần thiết.[10]

Danh sách các volumes[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày phát hành ISBN
01 25 tháng 5, 2009[11] ISBN 978-4-8401-2788-2
  1. "My Classmates Are All Girls" (クラスメイトは全員女 Kurasumeito wa Zennin Onna?)
  2. "Class Representative Runoff" (クラス代表決定戦 Kurasu Daihyō Ketteisen?)
  3. "The Transfer Student is the Second Childhood Friend" (転校生はセカンド幼なじみ Tenkōsei wa Sekando Osananajimi?)
  4. "Showdown! The Class League Match" (決戦!クラス対抗戦 Kessen! Kurasu Taikousen?)
02 25 tháng 8, 2009[12] ISBN 978-4-8401-2870-4
  1. "Boy Meets Boy" (ボーイ・ミーツ・ボーイ Bōi Mītsu Bōi?)
  2. "My Roommate is a Blond Gentleman " (ルームイトはブロンド貴公子(ジェントル) Rūmumeito wa Burondo Jentoru?)
  3. "Blue Days, Red Switch" (ブルー・デイズ・レッド・スイッチ Burū Deizu Reddo Suicchi?)
  4. "Find Out My Mind" (ファインド・アウト・マイ・マインド Faindo Auto Mai Maindo?)
  5. "Epilogue: From the Crimson's Deep Sleep" (エピローグ: 深なる紅(あか)のまどろみより Epirōgu: Fukanaru Aka no Madoromi yori?)
03 25 tháng 12, 2009[13] ISBN 978-4-8401-3086-8
  1. "Rain Maker" (乙女の心は晴れのち曇り(レイン・メーカー) Rein Mēkā?)
  2. "Ocean's Eleven!" (海に着いたら十一時!(オーシャンズ・イレブン) Ōshanzu Irebun!?)
  3. "Thin Red Line" (その境界線の上に立ち(シン・レッド・ライン) Shin Reddo Rain?)
  4. "Dressy White" (雪羅(ドレッシィ・ホワイト) Doresshī Howaito?)
  5. "Epilogue: Your Name is" (エピローグ: 君の名は(ユア・ネイム・イズ) Epirōgu: Yua Neimu Izu?)
04 25 tháng 3, 2010[14] ISBN 978-4-8401-3179-7
  1. "Welcome in the Summer" (ウェルカム・イン・ザ・ザマー Werukamu in za Samā?)
  2. "Rhapsody of Two Kittens" (二匹の子猫のラプソディー Nihiki no Koneko no Rapusodī?)
  3. "Midsummer Night's Dream" (真夏の夜の夢 Manatsu no Yoru no Yume?)
  4. "Lovesick Quintet" (恋に騒がす五重奏(クインテット) Koi ni Sawagasu Kuintetto?)
  5. "Epilogue:Night Hunters in the Darkness" (エピローグ: 暗がりに潜みし闇苅 Epirōgu: Kuragari ni Hisomishi Kuragari?)
05 25 tháng 6, 2010[15] ISBN 978-4-8401-3428-6
  1. "Heart Painkiller" (恋スル☆舌下錠(ハート・ペインキラー) Hāto Peinkirā?)
  2. "The Student Council President is a Felis Woman" (生徒会長は猫座の女 Seitokaichō wa Nekoza no Onna?)
  3. "Clear Melody of Cinderella's Heel" (硝子少女(シンデレラ・ヒール)の透色和音 Shinderera Hīru no Sukiiro Waon?)
  4. "Mysterious Lady" (ミステリアス・レイディ Misuteriasu Reidi?)
  5. "Epilogue: Beginning of the Story" (エピローグ: 「ものがたり」のはじまり Epirōgu: Monogatari no Hajimari?)
06 24 tháng 12, 2010[16] ISBN 978-4-8401-3516-0
  1. "Silent Ones" (静かなるもの Shizukanaru Mono?)
  2. "Resound, Maiden's Victory Song" (鳴り響け、乙女の凱歌 Narihibike, Otome no Gaika?)
  3. "Cannonball Fast" (弾丸のように、速く(キャノンボール・ファスト) Kyanonbōru Fasuto?)
  4. "Heartbreaker" (ハートブレイカー Hātobureikā?)
  5. "Epilogue: Reflection on the Water's Surface" (エピローグ: 水面映し Epirōgu: Minamo Utsushi?)
07 8 tháng 4, 2011 [8] ISBN 978-4-8401-3856-7

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản manga được vẽ bởi Kenji Akahoshi và bắt đầu nối tiếp trong tạp chí manga seinen Monthly Comic Alive vào ngày 27 tháng 5, 2010, số tháng 7,2010 của nó. tankōbon đầu tiên được xuất bản vào ngày 22 tháng 12, 2010,[7]tankōbon thứ hai đã được xuất bản vào ngày 23 tháng 3, 2011.

Internet radio[sửa | sửa mã nguồn]

Một chương trình Internet radio tên là Radio IS, sản xuất bởi Super A&G+, bắt đầu chiếu từ 1 tháng 1 đến 26 tháng 3, 2011.[17] Người dẫn chương trình là Yōko Hikasa, diễn viên lồng tiếng cho Houki Shinonono, và Asami Shimoda, diễn viên lồng tiếng cho Huang Lingyin. Tập đầu tiên đã được nghe lưu trữ trong 3 tuần, trong khi các tập tiếp theo sẽ được chiếu trong 2 tuần.[17] Chương trình radio thứ hai, được gọi là Radio IS Overtime (RADIO IS 延長戦 Rajio IS Enchōsen?) bắt đầu chiếu từ ngày 9 tháng 4, 2011, và được chiếu 4 tập 2 tuần 1 lần tới ngày 21 tháng 5, 2011.

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản Anime của Infinite Stratos được thông báo lần đầu tiên vào ngày 21 tháng 6, 2010,[18] và trang chủ chính thức đã được mở vào ngày 8 tháng 8, 2010.[19] Phiên bản này được chỉ đạo bởi Yasuhito Kikuchi, cũng là người chỉ đạo bộ phim Macross Frontier[20] với 8-Bit, cũng là hãng xử lý Macross Frontier,[20] tạo hiệu ứng và chuyển thể.[21] Người thiết kế nhân vật và giám đốc đạo diễn của bộ anime này là Takeyasu Kurashima và người thiết kế mecha Takeshi Takakura.[21] Người viết kịch bản là Atsuhiro Tomioka, Chinatsu Hōjō, và Fumihiko Shimo.[21] Shimo cũng sẽ lo thành phần của bộ phim.[21] Bộ phim được chiếu ở Nhật Bản từ ngày 6 tháng 1 tới 31 tháng 3, 2011 trên kênh TBS, và phần tiếp theo được chiếu trên Chubu-Nippon Broadcasting, Sun Television, KBS, và BS-i. Sáu đĩa DVDBlu-ray sẽ được phát hành bởi Media Factory giữa 30 tháng 3 và 21 tháng 9, 2011.[22] Anime được cấp giấy phép ở Bắc Mĩ bởi Sentai Filmworks,[23] với simulcast được cung cấp bởi Anime Network trên trang chủ video của nó. Ba tập phim đầu tiên được giới thiệu vào ngày 23 tháng 1, 2011, tiếp theo là một tập mỗi tuần.[24]

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc phim của anime được sáng tác bởi Hikaru Nanase.[21] Bài hát mở đầu anime là "Straight Jet", được hát bởi Minami Kuribayashi.[25] Bài hát kết thúc là "Super∞Stream", phiên bản của tập đầu tiên được hát bởi Yōko Hikasa, phiên bản của tập 2 và 3 được hát bởi Hikasa và Yukana, phiên bản của tập 4 và 5 được hát bởi Hikasa, Yukana và Asami Shimoda, phiên bản của tập 6 và 7 được hát bởi Hikasa, Yukana, Shimoda và Kana Hanazawa và phiên bản cuối cùng của các tập còn lại được hát bởi Hikasa, Yukana, Shimoda, Hanazawa và Marina Inoue.[25] Mỗi phiên bản của bài hát phản ánh diễn viên lồng tiếng của nhân vật đang chạy với Ichika trong kết thúc của mỗi tập. Đĩa CD đơn của bài "Straight Jet" được phát hành vào ngày 26 tháng 1, 2011, và đĩa CD đơn của bài "Super∞Stream" được phát hành vào ngày 16 tháng 2, 2011.[25] Cả 2 đĩa đơn được công bố dưới nhãn Lantis.[25]

Reception[sửa | sửa mã nguồn]

Light novel đã bán được 1.2 triệu bản cho tới nay.[26]

Bài mở đầu của anime, "Straight Jet", được xếp hạnh thứ 16,[27] và bài kết thúc, "Super∞Stream", được xếp hạng 10 trong bảng Oricon.[28]

Đĩa Blu-ray đầu tiên được phát hành đã bán được 22,000 bản vào tuần đầu tiên, trở thành 1 trong 6 volume của các chương trình anime trên TV series đạt được con số 1 trong bảng bán đĩa Blu-ray hàng tuần của Oricon.[29]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Yumizuru, Izuru (25 tháng 5 năm 2009). “クラス代表決定戦” [Trận đấu để cho người đại diện lớp]. IS〈インフィニット・ストラトス〉 [IS (Infinite Stratos)] (bằng tiếng Nhật) 1. Media Factory. tr. 103. ISBN 978-4-8401-2788-2. “「はい!織斑くんの専用IS「白式」です!」” 
  2. ^ Yumizuru, Izuru (25 tháng 5 năm 2009). “クラスメイトは全員女” [The Classmates are all Girls]. IS〈インフィニット・ストラトス〉 [IS (Infinite Stratos)] (bằng tiếng Nhật) 1. Media Factory. tr. 33. ISBN 978-4-8401-2788-2. “「久しぶり。六年ぶりだけど、箒ってすぐわかったぞ」” 
  3. ^ Yumizuru, Izuru (25 tháng 5 năm 2009). “クラスメイトは全員女” [The Classmates are all Girls]. IS〈インフィニット・ストラトス〉 [IS (Infinite Stratos)] (bằng tiếng Nhật) 1. Media Factory. tr. 33. ISBN 978-4-8401-2788-2. “そう言ってちょんちょんと俺が自分の頭を指さすと、箒は急に長いポニーテールをいじりだした。” 
  4. ^ Yumizuru, Izuru (25 tháng 5 năm 2009). “クラスメイトは全員女” [The Classmates are all Girls]. IS〈インフィニット・ストラトス〉 [IS (Infinite Stratos)] (bằng tiếng Nhật) 1. Media Factory. tr. 32. ISBN 978-4-8401-2788-2. “「去年、剣道の全国大会で優勝したってな。おめでとう。」” 
  5. ^ Yumizuru, Izuru (25 tháng 8 năm 2009). “ルームメイトはブロンド貴公子” [The Roommate is a Blonde Gentleman]. IS〈インフィニット・ストラトス〉 [IS (Infinite Stratos)] (bằng tiếng Nhật) 2. Media Factory. tr. 54. ISBN 978-4-8401-2870-4. “もう私は教官ではないし、ここではお前も一般生徒だ。” 
  6. ^ Yumizuru, Izuru (25 tháng 3 năm 2010). “真夏の夜の夢” [Midsummer Night's Dream]. IS〈インフィニット・ストラトス〉 [IS (Infinite Stratos)] (bằng tiếng Nhật) 4. Media Factory. tr. 178. ISBN 978-4-8401-3179-7. “その態度を併せて、箒は蘭が恋のライバルだと一瞬で理解する。” 
  7. ^ a ă “TBSアニメーション・<インフィニット・ストラトス>公式ホームページ - 原作情報” (bằng tiếng Nhật). Tokyo Broadcasting System. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2011. 
  8. ^ a ă “IS〈インフィニット・ストラトス〉⑦” (bằng tiếng Nhật). Media Factory. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2011. 
  9. ^ “《IS Infinite Stratos》動畫角色設定情報公開 中文版輕小說即將發行” (bằng tiếng Trung). China Times. 29 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2011. 
  10. ^ a ă â “「明確な違法行為」人気ラノベ作者がMF編集部に激怒!! 編集部への不信感を暴露” (bằng tiếng Nhật). Cyzo. 5 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2010. 
  11. ^ “IS 〈インフィニット・ストラトス〉” (bằng tiếng Nhật). Media Factory. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2010. 
  12. ^ “IS〈インフィニット・ストラトス〉②” (bằng tiếng Nhật). Media Factory. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2010. 
  13. ^ “IS <インフィニット・ストラトス> ③” (bằng tiếng Nhật). Media Factory. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2010. 
  14. ^ “IS <インフィニット・ストラトス> ④” (bằng tiếng Nhật). Media Factory. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2010. 
  15. ^ “IS <インフィニット・ストラトス> ⑤” (bằng tiếng Nhật). Media Factory. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2010. 
  16. ^ “IS <インフィニット・ストラトス> ⑥” (bằng tiếng Nhật). Media Factory. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2010. 
  17. ^ a ă “「RADIO IS」番組紹介” (bằng tiếng Nhật). Tokyo Broadcasting System. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2011. 
  18. ^ Infinite Stratos Light Novels Get TV Anime Green-Lit”. Anime News Network. 21 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2010. 
  19. ^ “TBSアニメーション・<インフィニット・ストラトス>公式ホームページ - 最新情報” (bằng tiếng Nhật). Tokyo Broadcasting System. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2011. 
  20. ^ a ă “祝10周年! TBSが誇る大人気アニメが集結したビッグな祭典「TBSアニメフェスタ 2010」はこんなに盛り上がったよ☆” (bằng tiếng Nhật). Animate. 1 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011. 
  21. ^ a ă â b c “TBSアニメーション・<インフィニット・ストラトス>公式ホームページ - スタッフ&キャスト” (bằng tiếng Nhật). Tokyo Broadcasting System. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2011. 
  22. ^ Infinite Stratos DVD & Blu-ray Volumes” (bằng tiếng Nhật). TBS. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2011. 
  23. ^ “Sentai Filmworks Adds Inifinite Stratos Anime”. Anime News Network. 18 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2011. 
  24. ^ “New Sci-Fi Action Series Infinite Stratos to Begin Simulcasting This January on The Anime Network”. Anime News Network. 19 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011. 
  25. ^ a ă â b “TBSアニメーション・<インフィニット・ストラトス>公式ホームページ - CD情報” (bằng tiếng Nhật). Tokyo Broadcasting System. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2011. 
  26. ^ “「IS」累計120万部到達!!!!” (bằng tiếng Nhật). Media Factory. 1 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011. 
  27. ^ “STRAIGHT JET” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2011. 
  28. ^ “SUPER∞STREAM” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2011. 
  29. ^ “<IS<インフィニット・ストラトス>>ブルーレイ第1巻が総合首位” [IS <Infinite Stratos> Blu-ray Vol. 1 Tops the Total Sales Charts]. Mantanweb (bằng tiếng Nhật). Yahoo! Japan. 6 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2011. 

Các link khác[sửa | sửa mã nguồn]