I Changho

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Lee.
I Changho
Lee Chang-ho (left) against Alexandre Dinerchtein
Tên đầy đủ I Changho
Chữ Hán 李昌鎬
Chosŏn'gŭl 이창호
McCune- Reischauer I Ch'ang-ho
Hán Việt Lý Xương Hạo
Sinh 29 tháng 7, 1975 (39 tuổi)
Nơi sinh Jeonju, Jeolla Bắc, Hàn Quốc
Nơi sống Hàn Quốc Hàn Quốc
Thầy cô Jo Hunhyeon
Trở thành kỳ thủ
chuyên nghiệp
1986
Thứ hạng 9 dan
Tổ chức Viện cờ Hàn Quốc

I Changho (이창호, 李昌鎬, Lý Xương Hạo) sinh vào ngày 29 tháng 7 nằm 1975, tại Jeonji, Jeolla Bắc, là một kì thủ cờ vây chuyên nghiệp cửu đẳng tại Hàn Quốc. Anh được xem như là một trong những kì thủ mạnh nhất thế giới. Là môn đệ của Jo Hunhyeon‎. Vào năm 2006, Changho đã giành chiến thắng trong trận tranh danh hiệu Wangwi lần thứ 11 liên tiếp. Chỉ kém thầy của mình, 16 lần liên tiếp giành giải Paewang và kì thủ Mã Hiểu Xuân 13 lần liên tiếp giành giải Mingren.

Phong cách chơi cờ[sửa | sửa mã nguồn]

"Thạch diện Phật" là một trong các biệt danh mà trong giới cờ vây dành cho I, xuất phát từ việc không để lộ cảm xúc, không bao giờ mỉm cười hoặc nhăn mặt trong toàn bộ ván cờ. Biệt danh trên cũng thể hiện phần nào phong cách chơi cờ của anh. Anh nằm trong tốp đầu thế giới về khả năng đọc cờ. Anh không bao giờ tấn công quá mức, và không bao giờ chơi "cờ rừng". Changho thường chiến thắng trong những trận đấu mà đối thủ tưởng mình đã chiến thắng bởi vì anh không vây những đám quân lớn hoặc có những nước cờ làm chủ thế trận. Trình độ của Changho thường bị các kì thủ chuyên nghiệp khác xem thường khi bắt đầu sự nghiệp. Anh không giống như Honinbo Shusaku, anh không có những nước đi lớn hoặc những nước cờ làm ngạc nhiên đối thủ.

Kì thủ Nhuế Nại Vĩ phát biểu rằng I sẽ để cho đối thủ làm những gì họ muốn, nhưng cuối cùng chiến thắng sẽ là I. Thường Hạo, một trong các kì thủ hàng đầu Trung Quốc đã nói, để biết được sức cờ thực sự của I thì phải đấu với I.

Do đó, các kì thủ thường chối bỏ sức mạnh của I Changho. Vì Changho không có những nước cờ gây ra sự choáng váng cho đối thủ, không gây áp lực bằng sức cờ hoặc trí thông minh. Jo Chihun trước một trận tranh quán quân giải World Go phát biểu nửa đùa nửa thật rằng ông sẽ dạy cho Changho biết thế nào là cờ vây, nhưng lại bị thất bại 3 ván trắng. Chihun không hiểu tại sao ông lại bị thua.

Mục tiêu vượt qua thầy giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Thầy giáo dạy cờ vây đầu tiên của I Changho nói rằng I lúc đầu rất cố gắng tạo ra những nước cờ thông minh trong ván đấu. Cho đến khi I trở thành môn đệ của Jo Hunhyeon, Jo rất nghi ngờ về năng khiếu của anh, vì I không thể tái lập lại ván cờ trong ngày hôm đó. Một thiên tài cờ vây thông thường sẽ có một trực giác nhạy bén, khả năng phân tích sắc sảo và một trí nhớ tuyệt vời. Theo đánh giá lúc đầu của Jo, I hoàn toàn không có một tiêu chuẩn nào của một thiên tài cờ vây. Nhưng Jo lưu ý rằng, I rất chăm chỉ, có một suy nghĩ sâu sắc và cách nhận thức khác biệt với lứa kỳ thủ cùng thời. Sau đó thì Jo thừa nhận I là một thiên tài cờ vây theo một cách hoàn toàn khác.

Trong thời gian học với Jo, I đã hoàn thiện khả năng chơi cờ của mình. Anh trở thành bậc thầy của những nước đi "thông thường" thay vì những nước đi có giá trị kết thúc ván đấu.

I rất thích những nước đi an toàn (mà anh có thể hoàn toàn kiểm soát được tình hình của mình lẫn đối thủ) hơn là những nước thông minh nhưng không biết rõ có thể để lại những khuyết điểm nào không. Rồi từ đó, I giảm thiểu các nguy cơ rủi ro từ các tình huống của đối thủ. Và trong thời gian ngắn, I trở thành người "kiểm soát sự bất thường" tốt nhất.

Vậy thì tại sao I lại thay đổi từ việc ưa thích các nước đi thông minh như lúc đầu sang các nước đi có giá trị trung bình mà hiệu quả? Lí do thực sự thì không ai biết chính xác. Một số lời phỏng đoán thì cho rằng phong cách đó là đối nghịch với phong cách của thầy giáo, một Jo Hunhyeon thường được xem là kì thủ thiên tài số một.

Trong giai đoạn khởi đầu chuyên nghiệp, I bị phê bình và chỉ trích vì cách đánh của mình chỉ dùng để đối trị với thầy giáo (vì không thắng nổi kì thủ cấp cao nào). Mặc dù sau đó I chứng minh được cách đánh của mình hiệu quả trước mọi kì thủ, lời chỉ trích cũng có phần nào đúng khi I một lần đã gián tiếp xác nhận mục tiêu của phong cách đánh của mình là dùng để đánh bại thầy giáo.

Có một vấn đề là bằng cách nào, I không thể so sánh với Jo về trí thông minh trời phú, và vì thế I không thể nào theo kịp và vượt qua được Jo. I chọn một phương pháp là dùng khả năng tính toán tuyệt với và những suy nghĩ sâu sắc để đối phó lại trí thông minh trời phú và khả năng phán đoán nhanh của thầy.

Đơn giản, đó là một từ thể hiện phong cách của I. Trong các ván đấu của anh, mọi thứ đều đơn giản. Tuy vậy, đó là sự đơn giản có trình độ. Thực ra thì đa số các kì thủ chuyên nghiệp không ấn tượng lắm với các ván đấu của anh (cho đến khi nào họ đấu với anh, như lời Thường Hạo). Sư phụ Jo Hunhyeon đã phát biểu rằng:

I ngồi và chờ đợi, không có gì thể hiện bên ngoài, đắm chìm trong một suy tư sâu sắc. Còn bạn, cứ đợi và đợi xem có gì trong sự suy tư sâu sắc đó. Bạn sẽ mất một chút bình tĩnh và nhảy vào cái mối suy tư sâu sắc đó. Không bàn đến việc thua ván đấu, bạn đã vướng vào cái suy nghĩ đó.

—Jo Hunhyeon

Nói theo cách khác, đó là sự đơn giản sâu sắc.

Đối đầu với các kỳ thủ thế hệ mới[sửa | sửa mã nguồn]

Bây giờ, I đang đối diện với những thay đổi. Phong cách đơn giản, bình yên mà I đã sử dụng trong nhiều năm nay đã không còn hiệu quả hiện nay. I Sedol đã trở thành mối đe dọa nghiêm trọng với Changho. Trong giải LG Cup, I Sedol đã đạt đến trình độ làm lung lay "tảng đá Phật" I Changho.

Theo kỳ thủ Gim Seungjun thất đẳng, lý do I không còn giữ được bình tĩnh vì anh không thể đảm bảo chiến thắng các kỳ thủ hiện nay bằng lối đánh cũ. Trong lúc hầu hết các kỳ thủ chuyên nghiệp Hàn Quốc I đối đầu (nhất là I Sedol) đều có khả năng tính toán cao, khả năng đọc trận đấu và khả năng thâu quan không kém, I bị áp lực không dùng được lối đánh cũ của mình, bắt buộc phải đối đầu với vài trận chiến trong ván cờ để chiến thắng. I hiện đang theo đuổi một lối đánh mà có nhiều trận chiến, sát sao hơn, trước làn sóng các kỳ thủ mới này. Trong các ván đấu như vậy, anh phạm sai lầm và thậm chí lại xuất hiện một số trạng thái tâm lý mà anh hiếm khi nào thể hiện ra ngoài.

Jo Hunhyeon có một cái nhìn thấu đáo vào những gì đang xảy ra giữa học trò của mình và I Sedol. Đối mặt với câu hỏi "Thời đại của I có phải đã kết thúc không ?", Jo trả lời đơn giản, "Không, thời điểm này cuối cùng cũng đã đến, I Changho sẽ có một cuộc phục thù trước đối thủ chính này. Cả 2 sẽ phải đấu với nhau nhiều ván nữa trong những năm tới. Và khi khói tan thì mới biết đây là thời đại của ai". Trở thành người chiến thắng trong cặp kỳ phùng địch thủ trong lịch sử cờ vây Hàn Quốc - Jo đã hạ Seo Bongsu với tỷ số 2-1 trong 1 thập niên, sau đó lại thất bại dưới tay môn đệ I của mình 2-1 trong 1 thập niên tiếp theo. Jo cảm thấy rằng khói đã xuất hiện, điều mà Yu Changhyeok không thể làm được trước I.

I sẽ thay đổi, như Jo đã từng thay đổi để thích ứng với thời đại mà Jo bị bắn hạ khỏi vị trí số 1 thế giới. I liệu có phải là kỳ thủ mạnh nhất mọi thời đại hay không phụ thuộc vào sự biến đổi của I và hiệu quả của sự thay đổi đó như thế nào.

Bak Chimun, một nhà phê bình cờ vây Hàn Quốc, cho rằng I Changho có thể là nhà chiến lược cờ vây vĩ đại nhất mọi thời đại khi I trở lại thành công để đối mặt với những kỳ thủ được mệnh danh là "sát thủ I Changho" (ví dụ Yoda Norimoto). Chúng ta sẽ thấy sự thật trong vòng 5 năm nữa, khi khói chiến trận đã tan.

Kết quả khả quan của nữ kì thủ Nhuế Nại Vĩ trước I Changho[sửa | sửa mã nguồn]

Bỏ qua kết quả trong trận đấu giữa Nhuế Nại Vĩ và I, trong đó tỷ số là 6-2 vào tháng 2 năm 2005 nghiêng về Nhuế Nại Vĩ, giả thuyết có thể như sau: để đánh bại được I Changho thì kỳ thủ đó phải có phong cách thật mạnh mẽ. Jo Hunhyeon thậm chỉ phải thay đổi cách đánh tích cực hơn, mạnh mẽ hơn để chống lại học trò của ông. Một loạt các trận thua của I trước các kỳ thủ trẻ I Sedol, Choe Cheolhan ủng hộ cho nhận xét này. Phong cách của Nhuế Nại Vĩ không nghi ngờ gì nữa là một trong những phong cách mạnh mẽ nhất. Sự sáng tạo trong tấn công và sự tiếp cận trận đấu sát sườn của cô là một thách thức đối với I, anh không thể đoán được bước đi kế tiếp của Nhuế, và vì vậy thất bại trong việc kiểm soát ván đấu như trong các ván mà anh đã thực hiện trước các kỳ thủ khác.

Một giả định khác gần hơn: Nhuế rất ngưỡng mộ I với tư cách là một kỳ thủ và về cá nhân. Từ đó, Nhuế lấy tất cả các cảm hứng mình có được để đối mặt với I. Khi 2 yếu tố này kết hợp thì Nhuế đã có một trận đấu đầy cảm hứng trước I, phong cách trong trận này của Nhuế rất khó để I kiểm soát.

Thực sự thì chỉ qua 8 ván đấu, không có các trận đấu, tái đấu tiếp theo nên cũng khó xác định Nhuế có vượt lên trước I hay không. The law of averages may eventually catch up.

Nhưng thực tế thì Nhuế luôn khiêm tốn cho rằng trình độ của I hơn cô nhưng không hiểu tại sao cô lại vượt qua được. Tuy nhiên, sẽ rất thú vị nếu cô có suy nghĩ thực sự như vậy.

Kết quả khả quan của kì thủ Yoda Norimoto trước I Changho[sửa | sửa mã nguồn]

Đến ngày 24 tháng 2 năm 2006, thành tích của Yoda trước I là 9 thắng - 8 bại.

Một số nhận xét qua các ván cờ của I Chang ho[sửa | sửa mã nguồn]

Kỹ thuật thâu quan rất xuất sắc của I đã được thừa nhận rộng rãi, anh đã bắt đầu có những nước thâu quan ngay khi trận đấu ở trung bàn sớm hơn các đối thủ của mình. Nhưng khi phân tích lại các ván đấu của I thì có một khía cạnh thú vị. Có vẻ như anh rất thích tenuki (thay vì đáp trả nước cờ của đối thủ thì dành quyền đi vào vị trí khác của bàn cờ) hơn những kỳ thủ khác. Dĩ nhiên điều này dựa vào khả năng đọc và định vị rất tốt, ấn tượng là anh đã làm trái ngược hoàn toàn với các câu thành ngữ về tenuki (ví dụ: "nếu đáng giá 15 mục thì hãy tenuki", hoặc "khi nghi ngờ, cứ tenuki",...[1]). I Changho thường đi những nước đi mang lại hiệu quả lớn hơn là những nước cần đi gấp, cần phải đáp lại đối thủ. Thực tế cho thấy, anh đã nhận ra được các nước "cần đi gấp" không thực sự quá gấp.

Anh cũng có vẻ thích đưa trận đấu về việc tranh giành kiếp (ko). Và thường các nhóm quân lớn của I trong các ván đấu dễ bị đe đọa vì anh đã áp dụng các nước đi lớn thay cho các nước đi an toàn.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

I Changho có số lượng danh hiệu đứng thứ 2 tại Hàn Quốc, sau thầy của mình Jo Hunhyeon.

Danh hiệu Năm giữ danh hiệu
Các giải còn tổ chức 41
Hàn Quốc Myungin 1990 - 1996, 1998 - 2003, 2009
Hàn Quốc Guksu 1990, 1993 - 1997, 2001, 2002, 2005
Hàn Quốc Electron-Land Cup 2005, 2006, 2008
Hàn Quốc Sibdan Cup 2005, 2007
Hàn Quốc KBS Cup 1988, 1991, 1994, 1998, 2001, 2002, 2004, 2005, 2007, 2008
Hàn Quốc Chunwon 1997 - 1999
Các giải không còn tổ chức 71
Hàn Quốc Wangwi 1990, 1995 - 2007
Hàn Quốc LG Refined Oil Cup 1997, 1998, 2001, 2003, 2004
Hàn Quốc Kisung 1993 - 2003
Hàn Quốc BC Card Cup 1991 - 1994, 1996
Hàn Quốc Chaegowi 1989 - 1991, 1993 - 1997
Hàn Quốc Daewang 1990 - 1992, 1995 - 1997
Hàn Quốc Baccus Cup 1990 - 1992
Hàn Quốc Taewang 1991 - 1993, 1997
Hàn Quốc Paewang 1993, 1994, 2001, 2002
Hàn Quốc Kiwang 1993, 1994
Hàn Quốc Gukgi 1993 - 1996
Hàn Quốc Paedal Cup 1993 - 1995, 1997
Hàn Quốc Baedalwang 1996
Giải đấu giữa các quốc gia 8
Hàn Quốc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Korea-China Tengen 1997 - 2000
Nhật Bản Hàn Quốc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Teda Cup 2004
Nhật Bản Hàn Quốc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Trung Hoa Dân Quốc Asian TV Cup 1995, 1996, 2002
Giải đấu quốc tế 18
Hàn Quốc Nhật Bản Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Trung Hoa Dân Quốc LG Cup 1997, 1999, 2001, 2004
Hàn Quốc Nhật Bản Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Trung Hoa Dân Quốc Samsung Cup 1997 - 1999
Nhật Bản Hàn Quốc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Trung Hoa Dân Quốc châu Âu Hoa Kỳ Fujitsu Cup 1996, 1998
Nhật Bản Hàn Quốc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Trung Hoa Dân Quốc châu Âu Hoa Kỳ Singapore World Oza 2002
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Hàn Quốc Nhật Bản Trung Hoa Dân Quốc Chunlan Cup 2003, 2005
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Hàn Quốc Nhật Bản Trung Hoa Dân Quốc Ing Cup 2000
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Hàn Quốc Nhật Bản Trung Hoa Dân Quốc Tong Yang Cup 1992, 1993, 1996, 1998
Hàn Quốc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Nhật Bản Trung Hoa Dân Quốc Zhonghuan Cup 2007
Tổng 138
Title Years Lost
Các giải còn tổ chức 17
Hàn Quốc GS Caltex Cup 2005
Hàn Quốc Wangwi 1991, 1993
Hàn Quốc Kisung 2004
Hàn Quốc Guksu 1989, 1991, 1992, 1998, 2003, 2004, 2006
Hàn Quốc Electron-Land Cup 2007
Hàn Quốc KBS Cup 1995 - 1997, 1999, 2000
Hàn Quốc Prices Information Cup 2005
Hàn Quốc BC Card Cup 1995
Các giải không còn tổ chức 11
Hàn Quốc Myungin 1990, 1997
Hàn Quốc Chaegowi 1988, 1992
Hàn Quốc Paewang 1988, 1995, 2003
Hàn Quốc Kiwang 1995
Hàn Quốc Paedal Cup 1996, 1998
Hàn Quốc Daewang 1993
Giải giữa các quốc gia 4
Nhật Bản Hàn Quốc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Trung Hoa Dân Quốc Asian TV Cup 1990, 1999, 2000, 2006
Giải quốc tế 10
Hàn Quốc Nhật Bản Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Trung Hoa Dân Quốc LG Cup 2003, 2009-2010
Hàn Quốc Nhật Bản Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Trung Hoa Dân Quốc Samsung Cup 2005, 2006
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Hàn Quốc Nhật Bản Trung Hoa Dân Quốc Chunlan Cup 1999, 2009
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Hàn Quốc Nhật Bản Trung Hoa Dân Quốc Tong Yang Cup 1991
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Hàn Quốc Nhật Bản Trung Hoa Dân Quốc Fujitsu Cup 2007, 2008, 2009
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Hàn Quốc Nhật Bản Trung Hoa Dân Quốc Ing Cup 2008
Tổng 37

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tiểu sử của I Changho ([2])

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Các ván cờ của I Changho ([3])