Ibn Zaydún

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm


Ibn Zaydún
Sinh 1141
Cordoba, Nay là Tây Ban Nha
Mất 1209
Sevilla, Nay là Tây Ban Nha
Công việc Nhà thơ
Quốc gia Ả Rập

Abu al-Waleed Ahmad Ibn Zaydún al-Makhzumi thường được gọi ngắn gọn là Ibn Zaydún (tên đầy đủ bằng tiếng Ả Rập: أبو الوليد أحمد بن زيدون المخزومي) (1003 – 1071) – nhà thơ Ả RậpTây Ban Nha trung cổ.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ibn Zaydún sinh ở Cordoba, trong một gia đình quí tộc Ả Rập giàu có và nổi tiếng. Ông và cha của Ibn Zaydún đều là những lãnh chúa có rất nhiều đất đai. Ibn Zaydún được giáo dục theo truyền thống và văn hóa Hồi giáo. Ông từng làm thư ký cho lãnh chúa Córdoba, sau khi bị dân chúng nổi dậy phản đối vì thuế khóa, ông đến Seville làm thầy dạy cho con cái của lãnh chúa Al Mutamid – cũng là một nhà thơ nổi tiếng đương thời. Ibn Zaydún lãnh nhiều sứ mệnh ngoại giao, đi đến nhiều quốc gia Hồi giáo và tham gia vào nhiều cuộc chinh phạt các quốc gia khác.

Ông là nhà thơ nổi tiếng bởi thơ tình. Hầu như toàn bộ thơ ông đều viết về công chúa Wallada bint al-Mustakfi – nữ thi sĩ, con gái của lãnh chúa Muhammad III of Córdoba. Tuyển tập Divan của ông là một trong những tác phẩm ít ỏi của thơ ca Ả RậpTây Ban Nha còn đến ngày nay. Ibn Zaydún là nhà thơ để lại nhiều dấu ấn trong văn học Ả Rập.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • L. Alavarez. (1998) Ibn Zaydun. In Encyclopedia of Arabic Literature (Vol. 1, pp. 384–385). Taylor & Francis.
  • Maria Rosa Menocal et al. (2000). The Literature of Al-Andalus. p. 306. Cambridge University Press.
  • S. Jayyusi et al. (1992). The Legacy of Muslim Spain. pp. 343–347. BRILL
  • GARULO, Teresa, La literatura árabe de Al-Andalus durante el siglo XI, Madrid, Hiperión, 1998
  • GONZÁLEZ PALENCIA, Ángel, Historia de la literatura arabigoespañola, Barcelona, Labor, 1928.
  • SOBH, Mahmud, «Introducción» a su ed. de Ibn Zaydūn, Casidas selectas, Madrid, Cátedra (Letras Universales, 377), 2005, págs. 7-95.
  • Cour A., Un poète arabe d’Andalousie, Ibn Zaidoun, Constantine, 1920.
  • Крачковский И. Ю., Избр. соч., т. 2, М — Л., 1956;
  • Aль-Фахури Х., История арабской литературы, т. 2, М., 1961;

Một số bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

1
Em quyết định số phận của anh thế nào cũng được
Anh không thể quên em, không có cách nào khác.
 
Chẳng lẽ đủ sức quên và có thể đổi thay
Người đã gắn bó với em bằng tình yêu này.
 
Anh cháy lên bằng tình em – đau đớn
Tình yêu là bệnh trong tim anh – đau lắm!
 
Nhưng khỏe mạnh anh cũng không muốn nào
Anh nói dối, xin cửa tự đóng vào.
 
Xin thề với Thánh Ala rằng yêu em, và chỉ
Sống để yêu em, không cần ai thay thế!
2
Anh sẽ không quên lời hứa của mình
Anh đặt vào đấy cả tâm hồn, trái tim!
 
Không bao giờ, ngày hay đêm cũng vậy
Lời hứa của mình anh sẽ không thay đổi.
 
Rằng chỉ mình em, chỉ một mình em
Là hiện thân điều mơ ước của anh!
 
Tình của em dù đam mê mãnh liệt
Chỉ cho anh một phần thôi cũng được.
 
Trong cách xa dù chỉ còn đêm
Anh xin em hãy nhớ về anh.
 
Và nếu cuộc đời anh, em cần đến
Anh sẽ nói: "Này đây, em hãy nhận!
 
Số phận anh là nô lệ của em
Số phận anh nằm trong tay em".
3
Anh yêu kẻ thù, bởi em cũng không là bạn
Vì nếu khác, thì tại sao làm anh đau đớn?
 
Có phải em giận anh? Em hãy trả lời
Dù em không công bằng – anh chỉ trách mình thôi.
 
Em như mặt trời, nhưng dưới mặt trời có bóng
Em chiếu sáng đêm… và làm ngày tối sẫm.
 
Anh biết rằng lời than phiền sẽ tan tác như mây
Chỉ cần em thương cho kẻ bất hạnh này!
4
Tình em là kho báu… Nhưng anh biết đâu tìm
Mặc cho vận may sẽ chỉ lối cho anh…
 
Trong đôi mắt anh giờ chia ly đã đến
Mắt khóc em và giã từ trong im lặng.
 
Số phận đang mỉm cười với anh lúc này
Nhưng hình bóng tuyệt vời của em không giấu được đám mây.
 
Em là cuộc đời anh, anh làm sao xa được
Nếu phải xa thì thà cho anh cái chết.
 
Than ôi, con mắt không sao giấu nổi tình anh
Gương mặt làm sao giấu được nỗi lòng.
 
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]