Interpol

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế – INTERPOL
Tên thông dụng Interpol
Tên tắt ICPO
Logo của Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế
Tổng quan về cơ quan
Thành lập 7 tháng 9 năm 1923
Nhân viên 703 (2012)[1]
Ngân sách hàng năm 70 triệu Euro (2012)[2]
Tư cách pháp nhân Chính phủ: cơ quan chính phủ
Kết cấu quyền hạn thực thi pháp luật
Cơ quan quốc tế
Các quốc gia 190 quốc gia thành viên
Map of the member states of Interpol.svg
Bản đồ của Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế - Màu xanh chỉ những quốc gia mà INTERPOL có thẩm quyền.
Hội đồng quản lý Đại Hội đồng Interpol
Cơ cấu hiến pháp Hiến pháp và Quy định chung của ICPO-INTERPOL
Tổng thể
Cơ cấu tổ chức
Trụ sở chính 200, Charles de Gaulle, Lyon, Pháp
Điều hành cơ quan
Tiện nghi
Văn phòng nước thành viên 190
Website
interpol.int
Lưu ý
Trụ sở Interpol tại Lyon

Interpol là tên gọi thường dùng của Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế (tiếng Anh: International Criminal Police Organization), một tổ chức liên chính phủ thi hành luật quốc tế được thành lập ngày 7 tháng 9 năm 1923 tại Viên, Áo.

Interpol có một ngân sách hàng năm khoảng 70 triệu Euro, hầu hết trong số đó được cung cấp thông qua đóng góp hàng năm của 190 quốc gia thành viên. Trước đây, tổ chức có văn phòng thường trực tại Paris, nhưng từ ngày 1 tháng 5 năm 1989 thì trụ sở chính chuyển về tại Lyon, Pháp. Đây là tổ chức liên chính phủ lớn thứ hai chỉ sau Liên Hiệp Quốc về số quốc gia thành viên. Trong năm 2012, Interpol có tổng cộng 703 nhân viên đại diện tại 98 quốc gia thành viên.[1] Tổng thư ký của tổ chức hiện nay là Ronald Noble, một người đã từng giữ chức Thứ trưởng đặc trách về tình báo tài chính và chống khủng bố của Bộ Ngân khố Hoa Kỳ. Tiếp nối sau thành công của Khoo Boon Hui, người giữ chức chủ tịch INTERPOL từ năm 2008-2012, Chủ tịch hiện nay của INTERPOL là Mireille Ballestrazzi, từng là Phó Giám đốc Trung tâm của Cảnh sát Tư pháp ở Paris, Phó Chủ tịch INTERPOL Châu Âu.

Interpol bao gồm 190 thành viên. Interpol là tổ chức trung lập về chính trị, và hiến pháp không cho phép can thiệp về vấn đề này, ít nhất là về mặt lý thuyết, đó là thực hiện các hoạt động chính trị, quân sự, tôn giáo, hoặc có tính chất phân biệt chủng tộc.[3] Công việc của tổ chức này tập trung chủ yếu về an toàn công cộng và chiến đấu với chủ nghĩa khủng bố, tội ác chống lại nhân loại, tội phạm môi trường, tội phạm diệt chủng, tội ác chiến tranh, tổ chức tội phạm quốc tế, vi phạm bản quyền, đánh cắp tác phẩm nghệ thuật, sản xuất và vận chuyển, buôn bán ma túy, buôn lậu vũ khí, buôn người, rửa tiền, khiêu dâm trẻ em, tội phạm cổ cồn trắng, tội phạm công nghệ cao, tội phạm về sở hữu trí tuệ và tham nhũng.

Tôn chỉ và mục tiêu hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn chỉ hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Interpol hoạt động độc lập theo tôn chỉ tôn trọng chủ quyền các quốc gia thành viên, không can thiệp vào công việc nội bộ. Đối tượng điều tra chỉ là tội phạm hình sự. Lực lượng này không điều tra các vấn đề liên quan đến chính trị, tôn giáo, quân đội, kỳ thị chủng tộc...

Mục tiêu hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

INTERPOL không phải là một tổ chức cảnh sát thuần túy mà nhiều người thường hay hiểu lầm. Vì Interpol chỉ là một cơ quan đầu não chuyên về điều tra, theo dõi, cung cấp tư liệu liên quan đến tội phạm hình sự, khủng bố. Interpol không tham gia vào công việc bắt bớ hoặc can thiệp vũ trang. Các hoạt động đó đều do cơ quan cảnh sát địa phương của quốc gia có liên quan xử lý. Nhưng, Interpol có thể giúp đỡ các tổ chức cảnh sát địa phương trong việc theo dõi tiến trình hoạt động của các kẻ bị truy tầm và phát lệnh truy nã cho các quốc gia thành viên.

Công việc chính của Interpol là theo dõi, điều tra phát hiện các tội phạm như rửa tiền, buôn bán người, trẻ em, buôn bán ma tuý, vũ khí, chống tội phạm công nghệ cao, chống tội phạm có tổ chức, chống khủng bố... nhằm góp phần giữ gìn trật tự xã hội trên toàn cầu.

Biểu tượng[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu tượng hiện tại của Interpol đã được thông qua vào năm 1950 và bao gồm các yếu tố sau:[4]

  • Hình Trái Đất để chỉ hoạt động trên toàn thế giới.
  • Nhánh ô liu đại diện cho hòa bình.
  • Thanh kiếm tượng trưng cho hoạt động của cảnh sát.
  • Bàn cân biểu tượng cho công lý.

Ngôn ngữ sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ sử dụng: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ả Rập. Tạp chí "Cảnh sát hình sự quốc tế" xuất bản hàng tháng bằng bốn thứ tiếng trên.

Tài chính[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2012, các khoản thu cho hoạt động của Interpol là 70 triệu Euro, trong đó 74% là các khoản đóng góp bắt buộc của các nước thành viên và 21% đến từ các dự án tài trợ của các tổ chức tư nhân và các doanh nghiệp thương mại.[1] Từ năm 2004 đến 2010, Interpol có đơn vị kiểm toán độc lậpTòa án kiểm toán Pháp.[5][6] Trong tháng 11 năm 2010, Tòa án Kiểm toán được thay thế bởi Văn phòng Tổng Kiểm toán của Na Uy có thời hạn ba năm.[7][8]

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ các quốc gia Thành viên.

Là một trong những tổ chức quốc tế lớn nhất toàn cầu, ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới là thành viên của tổ chức này. Đến tháng 3 năm 1999 có 190 nước tham gia.

Các quốc gia chưa là thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Văn phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài trụ sở chính ở Lyon, Interpol duy trì 7 văn phòng khu vực đặt tại:[1]

Trung tâm chỉ huy và điều phối của Interpol làm việc 24/7 có nhiệm vụ liên lạc cho lực lượng cảnh sát các quốc gia tìm kiếm thông tin khẩn cấp hoặc cảnh báo tội phạm đe dọa. Trung tâm chính ở Lyon và một trung tâm phụ ở Buenos Aires được mở vào tháng 5 năm 2011. Trung tâm thứ ba dự kiến sẽ mở tại Singapore vào tháng 9 năm 2014.[9] Interpol cũng có một văn phòng đại diện đặc biệt tại trụ sở của Liên Hiệp Quốc ở thành phố New York vào năm 2004.[10] và tại trụ sở của Liên minh châu ÂuBrussels vào năm 2009.[11]

INTERPOL cũng đang xây dựng Khu liên hợp Interpol Toàn cầu (ICGI) tại Singapore nhằm hoạt động như một trung tâm nghiên cứu và phát triển cơ sở. Dự kiến, trung tâm sẽ hoạt động vào tháng 9 năm 2014.[12]

Tổng thư ký và Chủ tịch[sửa | sửa mã nguồn]

Ronald Noble tại Hội nghị toàn cầu lần thứ 6 về chống vi phạm bản quyền và hàng giả.

Tổng thư kýtừ khi tổ chức ra đời năm 1923:

 Áo Oskar Dressler 1923–1946
 Pháp Louis Ducloux 1946–1951
 Pháp Marcel Sicot 1951–1963
 Pháp Jean Népote 1963–1978
 Pháp André Bossard 1978–1985
 Anh Quốc Raymond Kendall 1985–2000
Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ Ronald Noble 2000–present

Chủ tịch từ khi tổ chức ra đời năm 1923:

 Áo Johann Schober 1923–1932
 Áo Franz Brandl 1932–1934
 Áo Eugen Seydel 1934–1935
 Áo Michael Skubl 1935–1938
Cờ của Đức Quốc Xã Otto Steinhäusl 1938–1940
Cờ của Đức Quốc Xã Reinhard Heydrich 1940–1942
Cờ của Đức Quốc Xã Arthur Nebe 1942–1943
Cờ của Đức Quốc Xã Ernst Kaltenbrunner 1943–1945
 Bỉ Florent Louwage 1945–1956
Flag of Portugal.svg Bồ Đào Nha Agostinho Lourenço 1956–1960
 Anh Quốc Richard Jackson 1960–1963
Flag of Finland (bordered).svg Phần Lan Fjalar Jarva 1963–1964
 Bỉ Firmin Franssen 1964–1968
Flag of Germany.svg Đức Paul Dickopf 1968–1972
 Canada William Leonard Higgitt 1972–1976
Flag of Sweden.svg Thụy Điển Carl Persson 1976–1980
 Philippines Jolly Bugarin 1980–1984
Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ John Simpson 1984–1988
 Pháp Ivan Barbot 1988–1992
 Canada Norman Inkster 1992–1994
Flag of Sweden.svg Thụy Điển Björn Eriksson 1994–1996
 Nhật Bản Toshinori Kanemoto 1996–2000
 Tây Ban Nha Jesús Espigares Mira 2000–2004
Cờ của Cộng hòa Nam Phi Jackie Selebi 2004–2008
 Chile Arturo Herrera Verdugo Quyền chủ tịch cho đến tháng 10 năm 2008, và là ứng viên cho chức Chủ tịch
 Singapore Khoo Boon Hui Tháng 10 năm 2008–2012
 Pháp Mireille Ballestrazzi Tháng 11 năm 2012–2016

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Thông qua hoạt động của Interpol các quốc gia thành viên, chỉ tính riêng năm 2001 đã có 1.400 người đã bị bắt giữ vì liên quan tới các hoạt động phạm tội thông qua các lệnh truy nã của Interpol.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b “2012 Annual Report”. Interpol. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2013. 
  2. ^ “Báo cáo tài chính cho năm tài chính, kết thúc ngày 31 tháng 12 năm 2012”. Interpol. 23 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013. 
  3. ^ “Neutrality (Article 3 of the Constitution)”. Interpol. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013. 
  4. ^ “Name and logo”. Interpol. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013. 
  5. ^ “Appointment of Interpol External Auditor”. Cancún: Interpol. 8 tháng 10 năm 2004. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2010. 
  6. ^ “Questions and Answers”. Royal Canadian Mounted Police. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2010. 
  7. ^ “Financial Statements for the year ended 31 December 2011”. Interpol. 25 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013. 
  8. ^ “Audit assignments and secondments”. Riksrevisjonen - Office of the Auditor General of Norway. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2013. 
  9. ^ “Command & Coordination Centre”. Interpol. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013. 
  10. ^ “Order on Interpol Work Inside U.S. Irks Conservatives”. The New York Times (New York). 30 tháng 12 năm 2009. 
  11. ^ “Official opening of INTERPOL's office of its Special Representative to the European Union marks milestone in co-operation”. Brussels: Interpol. 25 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013. 
  12. ^ “S'pore, Interpol reaffirm excellent partnership”. Channel NewsAsia. Singapore: MediaCorp. 22 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]