It's My Life (bài hát của Bon Jovi)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"It's My Life"
Đĩa đơn của Bon Jovi
từ album Crush
Phát hành 23 tháng 5 năm 2000
Định dạng CD single
Thu âm kh. 2000
Thể loại Hard rock
Thời lượng 3:45
Hãng đĩa Island
Sáng tác Jon Bon Jovi, Richie SamboraMax Martin
Sản xuất Max Martin
Thứ tự đĩa đơn của Bon Jovi
"Real Life"
(1999)
"It's My Life"
(2000)
"Say It Isn't So"
(2000)

"It's My Life" là đĩa đơn đầu tiên của ban nhạc Bon Jovi được lấy từ album Crush. Đĩa đơn này được phát hành vào ngày 23 tháng 5 năm 2000. Ca khúc được viết bởi Jon Bon Jovi, Richie Sambora, Jay OrpinMax Martin.

"It's My Life" trở thành 1 trong những đĩa đơn thành công nhất của Bon Jovi, đạt được vị trí số 1 tại rất nhiều quốc gia và quan trọng nhất là bài hát đã trở thành 1 biểu tượng cho sự trường tồn của ban nhạc khi họ chiếm ưu thế qua rất nhiều thay đổi khác nhau trong dòng nhạc rock chủ đạo với những thành công đáng ngưỡng mộ. Nó được cho là đã làm sống lại sự nghiệp của Bon Jovi sau 5 năm không hoạt động, khi mà các thành viên theo đuổi sự nghiệp riêng. Đây cũng là sự giới thiệu của 1 ban nhạc kì cựu tới tầng lớp khán giả hoàn toàn mới và trẻ hơn.

Paul Anka đã cover "It's My Life" của Bon Jovi trong album "Rock Swings" phát hành năm 2005.[1]

Phản ứng từ người hâm mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát đã trở thành quốc ca đối với rất nhiều người hâm mộ:[2]

Khi viết "It's My Life", tôi nghĩ tôi đang viết một cách khoan dung về cuộc đời của mình và dường như tôi thấy được chính mình trong đó. Tôi không nghĩ rằng câu nói "It's My Life" sẽ được tiếp nhận như nói về tất cả mọi người--bởi lớp trẻ, bởi người lớn, bởi công nhân, hay bất cứ ai. "Đây là cuộc đời của tôi, và do tôi điều khiển". Mọi người đều có cảm nhận như thế từ thời này qua thời khác.

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản chính thức và remix[sửa | sửa mã nguồn]

The following versions and remixes were commercially released.

  • Bản chính — 3:46
  • Bản Acoustic — 3:41
  • Dave Bascombe Mix — 3:44

Bản Acoustic[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản acoustic ballad của bài hát đã được đưa vào album This Left Feels Right phát hành vào năm 2003 của Bon Jovi. Đấy là tuyển tập những hit hay nhất của Bon Jovi và đã được làm lại theo dạng mới. Còn có một phiên bản khác là sản phẩm của sự hợp tác giữa Bon Jovi và ban nhạc rock The All-American Rejects nhưng chỉ với 2 thành viên là Tyson RitterNick Wheeler.

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến thắng:

  • "Video Of The Year" tại VH-1 My Music Awards"
  • Một trong những bài hát hay nhất năm tại "ASCAP Pop Music Awards"

Đề cử:

Bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Australia[16] Bạch kim 70,000[17]
Áo[18] Bạch kim 30,000[19]
Pháp[20] Bạc 125,000[20]
Đức[21] Bạch kim 500,000[22]
Hà Lan[23] Vàng 40,000[19]
Thụy Điển[14] Bạch Kim 20,000[19]
Thụy Sỹ[24] Bạch kim 50,000[24]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ url=http://www.washingtonpost.com/wp-dyn/content/audio/2005/07/12/AU2005071201198.html%7Cpublisher=The Washington Post
  2. ^ “Bon Jovi Popularity Soars in Germany”. Deutsche Welle. 12 tháng 10, 2005. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009. 
  3. ^ a ă â b c d đ e Hit Parade (2000). “International charts”. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009. 
  4. ^ a ă â b Billboard magazine (2000). “Billboard charts”. All Music Guide. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009. 
  5. ^ Sexton, Paul (10 tháng 7, 2000). “Corrs Bump Eminem From Top Of U.K. Chart”. Billboard magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009. 
  6. ^ a ă Universität Würzburg (2000). “German Annual Chart”. ki.informatik.uni-wuerzburg.de. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009. 
  7. ^ Irish Music Recording Association (25 tháng 5, 2000). “Irish Singles Chart (searchable database)”. irishcharts.ie. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009. 
  8. ^ a ă Mariah-Charts (2000). “Weekly Charts”. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2009. 
  9. ^ “Australian year-end chart”. ARIA. 2000. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009. 
  10. ^ Austrian Charts (2000). “Austrian Annual Chart”. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009. 
  11. ^ Ultra Top (2000). “Flemish Annual Chart”. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009. 
  12. ^ Ultra Top (2000). “Walloon Annual Chart”. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009. 
  13. ^ Syndicat national de l'édition phonographique (2000). “French Annual Chart”. Disque En France. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009. 
  14. ^ a ă Sverigetopplistan (2000). “Swedish charts”. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009. 
  15. ^ Hit Parade (2000). “Swiss Annual Chart”. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009. 
  16. ^ Austrian Recording Industry Association (2000). “Australian Certification”. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009. 
  17. ^ Australian Recording Industry Association. “Criteria”. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009. 
  18. ^ International Federation of the Phonographic Industry — Austria (2 tháng 8, 2000). “Austrian Certification (searchable database)”. ifpi.at. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009. 
  19. ^ a ă â Recording Industry Association of Japan (2005). “Standard for Certifying Awards of Countries” (PDF). riaj.or.jp. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009. 
  20. ^ a ă Syndicat national de l'édition phonographique (2000). “French Certification”. Charts In France. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009. 
  21. ^ International Federation of the Phonographic Industry — Germany (2000). “German Certification”. Musik Industrie. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009. 
  22. ^ International Federation of the Phonographic Industry (2000). “Criteria” (PDF). musikindustrie.de. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009. 
  23. ^ NVPI (2000). “Dutch Certification (searchable database)”. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009. 
  24. ^ a ă Hit Parade (2000). “Swiss Certification”. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]