J-pop

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ J-Pop)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hikaru Utada, nữ ca sĩ có album First Love được coi là album bán chạy nhất mọi thời đại trong lịch sử Oricon

J-pop là từ viết tắt của Japanese pop (nhạc Pop Nhật Bản), nó cũng là định nghĩa tương đối về một thể loại nhạc đã bùng nổ thị trường âm nhạc Nhật thập niên 1990. Từ này cũng ám chỉ tới những nghệ sĩ âm nhạc nổi tiếng của Nhật và được sử dụng bởi giới truyền thông Nhật để phân biệt những nghệ sĩ âm nhạc Nhật với những nghệ sĩ nước ngoài.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 1920 tới 1950: Ryūkōka[sửa | sửa mã nguồn]

Ichiro Fujiyama, ca sĩ nổi tiếng của thể loạiryūkōka

Âm nhạc đại chúng Nhật, được gọi là ryūkōka, được phân chia làm hai thể loại enkapoppusu, có xuất sứ từ thời kì Minh Trị, nhưng phần lớn các học giả Nhật coi thời kì Taishō mới là điểm khởi đầu của ryūkōka, vì đây mới là thời kì mà dòng nhạc này giành được tiếng vang toàn quốc. Vào thời kì Taisho, các nhạc cụ phương Tây, đã được giới thiệu vào Nhật từ thời Minh Trị, được sử dụng rộng rãi. Chịu ảnh hưởng bởi những dòng nhạc của phương Tây như JazzBlues, ryūkōka đã kết hợp với những nhạc cụ phương Tây như violin, harmonicaguitar. Tuy nhiên giai điệu thì vẫn được viết theo thang âm Nhật Bản.

Thập niên 1960: Nguồn gốc của phong cách hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Kyu Sakamoto với ban nhạc ở trường. Ca khúc "Sukiyaki" của ông đã trở thành bài hát tiếng Nhật duy nhất từng dành vị trí quán quân trên Billboard Hot 100.

Năm 1956, phong trào nhạc Rock and Roll phát triển rầm rộ nhờ những nhóm nhạc nổi tiếng như Kosaka KazuyaWagon Masters, việc những nhóm nhạc này biểu diễn ca khúc nổi tiếng của Elvis PresleyHeartbreak Hotel càng làm khuấy động nóng cho phong trào. Thể loại này được giới truyền thông Nhật gọi là "Rokabirī"" (ロカビリー). Những ca sĩ học tập thể loại nhạc này và dịch lời các ca khúc nổi tiếng của Mỹ, dẫn đến phong trào Cover Pops (カヴァーポップス,Kavā poppusu). Phong trào Rokabirī đạt đỉnh cao khi 45,000 khán giả Nhật tới xem buổi biểu diễn của những ca sĩ Nhật tại Carnival phương Tây Nichigeki trong một tuần vào tháng 2 năm 1958.

Thập niên 1970: Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu thập niên 1960, âm nhạc Nhật Bản bị ảnh hưởng bởi sự hồi sinh của âm nhạc dân gian Mỹ, điều này được gọi là "fōku" (フォーク), dù cho thể loại nhạc này phần lớn là các bài cover của những ca khúc gốc.

Đầu thập niên 1970, âm nhạc Nhật chuyển từ những ca khúc đơn giản được đệm bởi guitar sang các ca khúc được biên soạn phức tạp hơn được gọi là New Music (ニューミュージック,nyū myūjikku). Thay vào những thông điệp xã hội, các ca khúc thuộc thể loại này tập trung vào các thông điệp cá nhân như tình yêu.

Thể loại nhạc Rock thời kì này chưa thực sự phát triển ở Nhật. Tuy nhiên đến năm 1978, single "Toki yo Tomare" của rocker Eikichi Yazawa trở thành một hit lớn với hơn 639,000 được bán ra. Ông được tôn vinh là người tiên phong cho nhạc rock Nhật Bản. Trong khi đó, Keisuke Kuwata thành lập nhóm nhạc rock Southern All Stars và cho ra mắt năm 1978. Southern All Stars hiện vẫn nổi tiếng cho tới ngày này. Cùng năm đó, Yellow Magic Orchestra cũng ra đời, ban nhạc gồm 4 thành viên này đã phát triển thể loại electropop. Southern All Stars và Yellow Magic Orchestra đã chấm dứt thời kì của New Music.

Thập niên 1980[sửa | sửa mã nguồn]

Buổi biểu diễn của nhóm X Japan

Trong thập niên 1980, từ City Pop được dùng để mô tả thể loại nhạc đại chúng lấy bối cảnh thành phố, trong đó thành phố Tokyo đã trở thành nguồn cảm hứng đề tài cho nhiều nghệ sĩ. Dù City Pop bị ảnh hưởng bởi New Music, ban nhạc rock Happy End được coi là một trong những người khai sinh dòng nhạc này ở Nhật.

Trong thập niên này các nghệ sĩ nhạc rock trở nên rất nổi tiếng như Southern All Stars, Anzen Chitai, The Checkers, The Alfee, BoøwyTM Network. Alfee trở thành nghệ sĩ đầu tiên thu hút được 100,000 tới concert. Boøwy trở thành ban nhạc rock có ảnh hưởng, 3 album của nhóm đã giành được vị trí quán quân năm 1988, giúp họ trở thành những nghệ sĩ nam đầu tiên giành được kì tích này trong vòng một năm. Cuối thập niên 1980, phong trào visual kei nổi lên trong thể loại rock của Nhật, đây là một phong cách nổi bật với các nhóm nhạc nam, họ trang điểm đậm với những kiểu tóc kì quái và những trang phục lưỡng tính. Những đại diện tiêu biểu là X JapanBuck-Tick.

Thời kì này cũng đánh dấu sự nổi lên của những ca sĩ nhóm nhạc thần tượng như Mari Amachi, Saori Minami, Momoe Yamaguchi, Candies, Akina Nakamori, Kyōko Koizumi, Yōko Oginome, Miho Nakayama, Minako HondaChisato Moritaka. Những ca sĩ nhóm nhạc thần tượng đã giành được những thành công đáng kể và hiện vẫn là những thành phần chính của thị trường âm nhạc Nhật.

Thập niên 1990[sửa | sửa mã nguồn]

Namie Amuro (giữa) biểu diễn tại MTV Asia AidBangkok, Thái Lan.

Đây là giai đoạn mà thị trường âm nhạc Nhật Bản phát triển mạnh mẽ với những chiến lược marketing hiệu quả và tập trung vào việc sản xuất các sản phẩm âm nhạc với số lượng lớn. Thời kì từ 1990 tới 1993 là giai đoạn âm nhạc Nhật bị thống trị bởi những nhóm nhạc ca sĩ được quản lý bởi các công ty, tiêu biểu là các nghệ sĩ như B'z, Tube, T-Bolan, Zard, Wands, Maki Oguro, Deen, Keiko Utokuvà Field of View. Giai đoạn 1994 tới 1997 dòng nhạc dance/techno xâm lấn với sự nổi lên của những nghệ sĩ như TRF, Ryoko Shinohara, Yuki Uchida, Namie Amuro, Hitomi, Globe, Tomomi KahalaAmi Suzuki.

Trong giai đoạn từ 1997 tới 1999 là giai đoạn đỉnh cao của thị trường thương mại âm nhạc Nhật Bản với hàng loạt ca sĩ đạt được cột mốc hàng triệu bản CD bán ra thị trường. Trong đó nổi bật nhất là việc Hikaru Utada bán được 7.650.000 bản cho album đầu tay First Love sau khi nó được tung ra thị trường tháng 3 năm 1999.

Thập niên 2000: Đa dạng hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Ayumi Hamasaki tại Đài Loan, tháng 3 2007.

Thập niên 2000, những ảnh hưởng của dòng nhạc R&BHip Hop tràn tới Nhật. Tháng 11 năm 2000, nhóm nhạc R&B Chemistry bán được 1.14 triệu bản trong tuần đầu tiên The Way We Are.Hay album MusiQ của Orange Range tiêu thụ được 2.5 triệu bản, biến nó trở thành album ăn khách nhất năm 2005.

Đây là giai đoạn nổi lên sự xuất hiện của công ty quản lý nổi tiếng Johnny & Associates, công ty đã đào tào hàng loạt tên tuổi đình đám của âm nhạc Nhật giai đoạn này. Ca sĩ Ayumi Hamasaki tạo nên một cơn chấn động trong lịch sử Giải Thu âm Nhật Bản khi trở thành ca sĩ đầu tiên dành 3 giải grand pix liên tiếp từ 2001 tới 2003.

Khởi đầu là "chiến tranh" giữa những nhóm nhạc nữ thần tượng như AKB48, Hello! Project (Morning Musume, Cute, Berryz KoboS/mileage), Super Girls.

Thời kỳ này cũng đánh dấu sự trở lại của những cựu binh làng nhạc Nhật. Mặc dù tỉ lệ bán album ngày càng sụt giảm nhưng lượng khán giả tới xem các buổi diễn ngày càng gia tăng. Năm 2007, Eikichi Yazawa trở thành nghệ sĩ đầu tiên biểu diễn 100 lần tại Nippon Budokan. Những nghệ sĩ rock như Mr. Children, B'z, Southern All StarsGlay vẫn giành được vị trí quán quân trong giai đoạn này. Ca khúc "Sign" của Mr. Children đã giành được giải Grand pix tại Giải Thu âm Nhật Bản năm 2004. Album Home năm 2007 của Mr. Children cũng giúp nhóm vượt qua cột mốc 50 triệu đĩa bán ra tại Nhật, giúp nhóm trở thành nghệ sĩ có lượng album bán ra nhiều nhất ở Nhật sau B'z với hơn 75 triệu đĩa.

Thập niên 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi đầu là "chiến tranh" giữa những nhóm nhạc nữ thần tượng như Momoiro Clover Z, Tokyo Girls' Style.

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]