J. Leiba

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm

J. Leiba (1912 - 18 tháng 12 năm 1941[1]) là một nhà thơ Việt Nam.

Mục lục

[sửa] Tiểu sử

J. Leiba tên thật là Lê Văn Bái. J.Leiba ( viết tắt chữ Jean Leiba ), tuy có vẻ Tây nhưng do hai chữ Lê Bái nói lái. Khởi đầu, ông ký bút hiệu Thanh Tùng Tử, sau mới đổi J. Leiba. Ông sinh ở Yên Bái, nhưng chính quán là làng Nam Trực (Nam Định). Thưở nhỏ ông theo học trường Bảo hộ Hà Nội, đến năm thứ ba, ông bỏ dở việc học để theo bạn giang hồ mãi võ ngót một năm trời. Sau đó, ông trở về quê học chữ hán.

Năm 1935, ông thi đỗ bằng Thành chung, rồi vào ngạch thư ký tòa sứ Bắc kỳ, nhận việc ở tòa sứ tỉnh Sơn Tây.Trong thời kỳ làm công chức ở đây, ông đã sống khá trác táng. Khi đổi lên tòa sứ Hà Giang thì J.Leiba đã mắc hai chứng bệnh: lao phổi và đau tim, ông xin nghỉ về Hà Nội chữa trị, nhưng đến tháng 7 năm 1940, tự biết mình không thể qua khỏi nên xin về nghỉ ở quê nhà.[1]

Bước chân vào làng thơ từ năm 1934, J. Leiba góp mặt thơ mình trên các báo: Loa, Tin văn, Ngọ báo, Ích hữu, Việt báo, Nam Cường, L'Annam nouveau và Tiểu thuyết thứ bảy

[sửa] Nghiệp văn chương

Hai ông là Hoài ThanhHoài Chân viết:

Thơ đăng báo Loa với một tên ký chẳng Việt nam tí nào, thế mà vừa ra đời Leiba liền được người ta thích.
Người ta thích người vần thơ có giọng Đường rõ rệt, mà lại nói được nỗi lòng riêng của người thời nay. Trong khuôn khổ xưa, cái hương vị mới ấy rất dễ say người.
Thơ Leiba ra đời (1934) giữa lúc ai nấy đều cảm thấy mình như trẻ lại. Các nhà thơ đương thời, Thế Lữ, Đông Hồ, Thái Can, kẻ trước người sau, đều tả bằng người nét âu yếm nỗi lòng của người thiếu nữ lúc mới bén tình yêu. Nhưng không ai nói được đầy đủ như tác giả bài "Năm qua" người giai đoạn của một cuộc yêu đương nhóm lên từ hồi tóc còn xoã bỏ vai. Ít ai nói được như Leiba những vui buồn của người xuân nữ. Những câu như:
Hoa tặng vừa tàn bông thược dược,
Tìm chàng bỗng vắng, bóng chàng xa...

Hay là:

Sầu đối gương loan, bóng lạ người,
Chàng không lại nữa, đẹp cùng ai?

Có thể để ngang những câu tuyệt hay trong thơ cổ.

Hai ông là Nguyễn Tấn LongNguyễn Hữu Trọng nhận xét:

Xuyên qua tiếng thơ của J.Leiba, ta nhận thấy cuộc đời thi nhân biến đổi từng hồi. Nó đánh dấu từ cái chí phiêu bạt giang hồ nẩy mầm khi còn trong ngưỡng cửa nhà trường. Tình yêu của thi nhân lại chớm nở quá sớm.
Em nhớ năm em mười lăm ,
Cũng ngày đông cuối sắp sang xuân .
Mừng xuân em thấy tim hồi hộp .
Nhìn cái xuân sang khác mỗi lần …
(trích Năm qua)
Rồi trải qua một dòng một dòng đời lang bạt từ Bắc chí Nam, bao nhiêu phù trầm thế sự, bao nỗi lo bạc đầu...
Ở bài Hoa bạc mệnh, thi nhân than thở:
Người đẹp vẫn thường hay chết yểu
Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai
Ba xuân muôn thắm thêu cành biếc,
Bạc mệnh hoa kia đã rụng rồi!
Hay ở bài Bốn mùa yêu thương:
Em thuộc về ai? Ta biết đâu?
Thương hoa tình ái sớm tàn mau.
Nhưng bao người trước ta, em nhỉ,
Ai kẻ buồn duyên đến bạc đầu!
Lúc bấy giờ, thi nhân mới để tâm quay về nẽo Đạo.[2]

Hoài Thanh và Hoài Chân, trong Viêt Nam thi Nhân tiền chiến, còn ghi thêm ý:

Chán nản đưa người về tôn giáo. Thơ Leiba hồi sau có bài đượm mùi Phật, mặc dầu chưa đúng hẳn với tinh thần đạo Phật. Bài Bến giác chẳng hạn có một giọng lạnh lùng, chua chát nhưng chưa phải là giọng của kẻ đã dứt hết trần duyên…Tuy thế người gần đạo Phật hơn hết các nhà thơ bấy giờ.
Bến Giác
Phù thế đã nhiều duyên nghiệp quá!
Lệ lòng mong cạn chốn am không.
Cửa thiền một đóng duyên trần dứt,
Quên hết người quen chốn bụi hồng.

Khác đôi chút với những ý trên, J. Leiba "vì ân hận với những hành vi lầm lỡ cũ, ông tự nguyện quay về với đạo Phật để tìm nguồn an ủi. Những bài thơ của ông lúc này nhiễm dần mùi đạo nhưng vẫn không tránh khỏi giọng yếm thế và đôi khi còn kiêu bạt"[1]

[sửa] Chú thích

  1. ^ a b c Theo Tự điển Văn học, NXB Thế giới, 2004, tr694-695
  2. ^ Việt Nam thi nhân tiền chiến, NXB Sống Mới, Sài Gòn, 1969

[sửa] Liên kết ngoài

Công cụ cá nhân