Jake Gyllenhaal

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Jake Gyllenhaal
Jake Gyllenhaal Cannes 2015.jpg
Gyllenhaal tại Liên hoan phim Cannes 2015.
Sinh Jacob Benjamin Gyllenhaal
19 tháng 12, 1980 (34 tuổi)
Los Angeles, California, Hoa Kỳ
Công việc Diễn viên
Năm hoạt động 1991–nay
Cha mẹ Stephen Gyllenhaal
Naomi Foner
Gia đình Maggie Gyllenhaal (chị gái)
Peter Sarsgaard (anh rể)

Jacob Benjamin "JakeGyllenhaal ( /ˈɪlənhɔːl/ JIL-ən-hawl, sinh ngày 19 tháng 12 năm 1980) là một nam diễn viên người Mỹ. Là con trai của đạo diễn Stephen Gyllenhaal và nhà biên kịch Naomi Foner, Gyllenhaal bắt đầu diễn xuất từ năm lên mười. Tiếp sau vai chính đầu tiên trong bộ phim October Sky (1999), anh tiếp tục thủ vai chính trong bộ phim độc lập gây tiếng vang Donnie Darko (2001) với vai diễn một cậu bé gặp vấn đề về thần kinh cùng chị gái Maggie Gyllenhaal. Năm 2002, anh góp mặt trong một bộ phim độc lập khác, The Good Girl. Năm 2004, anh xuất hiện trong một phim khoa học giả tưởng The Day After Tomorrow khi vào vai một sinh viên mắc kẹt trong một trận đại hồng thủy do sự mát dần toàn cầu.

Gyllenhaal thủ vai một người lính lục quân bất mãn trong Jarhead (2005) và vai diễn Jack Twist trong Brokeback Mountain mang về cho anh sự thừa nhận rộng rãi. Với vai diễn này, anh giành giải BAFTA cho nam diễn viên phụ xuất sắc nhất và được đề cử giải Oscar cho cùng hạng mục. Từ đó anh đã thủ vai chính trong nhiều bộ phim đáng chú ý, bao gồm Zodiac (2007), Prince of Persia: The Sands of Time (2010), Love and Other Drugs (2010), Source Code (2011), End of Watch (2012), Prisoners (2013) và Nightcrawler (2014).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Gyllenhaal sinh ra tại Los Angeles, California, là con trai của nhà sản xuất phim và kịch tác gia Naomi Foner (nhũ danh Achs) và đạo diễn Stephen Gyllenhaal. Nữ diên viên Maggie Gyllenhaal, chị gái anh, xuất hiện cùng Jake trong bộ phim Donnie Darko. Cha của Gyllenhaal mang hai dòng máu Thụy Điển và Anh, và là dòng dõi của dòng họ Gyllenhaal danh giá.[1] Mẹ của Jake xuất thân từ một gia đình Do Thái tại thành phố New York và Jake cũng nói rằng anh luôn tự coi mình là một người Do Thái. Vào ngày sinh nhật thứ 13, Jake thực hiện nghi thức Bar Mitzvah nhưng không có trang phục truyền thống tại một khu nhà dành cho người vô gia cư vì cha mẹ anh muốn anh nhớ tới gốc gác của gia đình.[2][3] Họ cũng yêu cầu anh làm thêm vào mùa hè để có thể phần nào nuôi sống bản thân, do đó Jake được nhận làm những việc lặt vặt tại một nhà hàng là chỗ quen biết với gia đình.

Sự nghiệp diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khi còn nhỏ, Gyllenhaal thường xuyên được tiếp xúc với việc làm phim do những mối quan hệ sâu sắc trong ngành của gia đình. Anh bắt đầu sự nghiệp diễn xuất với vai diễn con trai của Billy Crystal trong phim hài City Slickers năm 1991. Năm 1992 cha mẹ không cho phép anh tham gia trong bộ phim The Mighty Ducks (tạm dịch: Những chú vịt mạnh mẽ) vì anh sẽ phải xa nhà hai tháng.[4] Trong những năm sau đó, gia đình cho phép anh tham gia những buổi thử vai, nhưng thường xuyên cấm anh nhận vai nếu được chọn.[5] Một vài lần anh được xuất hiện trong những phim cha mình làm đạo diễn. Gyllenhaal góp mặt trong bộ phim ra mắt năm 1993 A Dangerous Woman (Người đàn bà nguy hiểm) cùng với chị gái Maggie; trong "Bop Gun", một tập trong bộ phim truyền hình Homicide: Life on the Street năm 1994 và trong bộ phim hài Homegrown năm 1998. Cùng với mẹ, Jake và Maggie xuất hiện trong hai tập của Molto Mario, một chuơng trình nấu ăn Italia trên kênh truyền hình Food Network. Cho đến năm cuối trung học, anh chỉ tham gia duy nhất một bộ phim nữa không do cha mình đạo diễn là phim Josh and S.A.M năm 1993, một bộ phim phiêu lưu trẻ em ít được biết đến.[6]

Gyllenhaal tốt nghiệp trường Harvard-Westlake tại Los Angeles năm 1998, sau đó nhập học đại học Columbia, nơi mẹ anh tốt nghiệp và chị gái cũng đang học năm cuối, với chuyên ngành tôn giáo và triết học phuơng Đông. Gyllenhaal bỏ học sau hai năm để tập trung vào sự nghiệp diễn xuất, nhưng vẫn bày tỏ mong muốn được tốt nghiệp.[4] Vai chính đầu tay của Gyllenhaal trong phim October Sky năm 1999, được chuyển thể từ cuốn tự truyện Rocket Boys của Homer Hickam, trong đó anh khắc họa một người đàn ông trẻ tuổi đến từ Tây Virginia phấn đấu để giành được một học bổng khoa học để không phải trở thành thợ mỏ. Bộ phim thu về 32 triệu đô la Mỹ và được báo Sacramento News and Review mô tả là một "màn trình diễn đột phá" của Gyllenhaal.[6]

Từ Donnie Darko đến sân khấu Luân Đôn[sửa | sửa mã nguồn]

Donnie Darko, bộ phim lớn thứ hai của Gyllenhaal, không thu được thành công từ phòng vé khi ra mắt năm 2001, nhưng vẫn trở thành một bộ phim độc đáo được yêu thích.[7] Bộ phim, được đạo diễn bởi Richard Kelly, lấy bối cảnh năm 1988, với Gyllenhaal thủ vai một thiếu niên nổi loạn, sau khi thoát chết đã có những trải nghiệm của một con thỏ cao 6 bộ (1.8m) tên là Frank, người nói với cậu ta rằng thế giới đang đi đến bờ vực diệt vong. Diễn xuất của Gyllenhaal được đón nhận tích cực bởi giới chuyên môn; Gary Mairs của trang Culture Vulture viết rằng "Gyllenhaal đã xử lý được những cảnh quay khó, vừa thờ ơ vừa bị làm phiền một cách sâu sắc, thường là cùng một lúc."[8][9]

Sau khi được giới phê bình đón nhận với Donnie Darko, vai diễn tiếp theo của Gyllenhaal là viên phi công Kelston trong bộ phim Highway cùng với Jared Leto. Diễn xuất của anh được một nhà phê bình miêu tả là "ngu ngốc, sáo rỗng và không đủ tốt để ra rạp (straight-to-video)."[10] Gyllenhaal thành công hơn khi sánh vai cùng Jennifer Aniston trong The Good Girl, ra mắt tại Liên hoan phim Sundance năm 2002. Anh cũng góp mặt trong bộ phim Lovely & Amazing cùng với Catherine Keener.[11] Trong cả hai phim, anh vào vai một nhân vật tâm lý không ổn định và có một mối quan hệ tùy tiện với một người phụ nữ hơn tuổi. Gyllenhaal sau đó gọi đó là những vai diễn "định hình phong cách".[12] Gyllenhaal sau đó góp mặt trong bộ phim hài tình cảm Bubble Boy của hãng phim Touchstone, một phần dựa vào câu chuyện của David Vetter. Bộ phim khắc họa những cuộc phiêu lưu của nhân vật chính khi anh theo đuổi tình yêu của đời mình trước khi cô kết hôn với một người đàn ông khác.[13] Bộ phim bị chỉ trích mạnh mẽ bởi giới phê bình.

Sau Bubble Boy, Gyllenhaal góp mặt cùng Dustin Hoffman, Susan SarandonEllen Pompeo trong Moonlight Mile, trong vai một người đàn ông trẻ đối mặt với cái chết của vị hôn thê và sự đau buồn của bố mẹ cô gái. Câu chuyện, nhận được những đánh giá trái chiều,[14] một phần dựa trên trải nghiệm cá nhân của biên kịch/đạo diễn Brad Silberling sau khi người bạn gái Rebecca Schaeffer bị sát hại.[15]

Gyllenhaal gần như đã giành được vai Người Nhện trong bộ phim Người Nhện 2 khi đạo diễn Sam Raimi lo ngại về sức khỏe của diễn viên chính Tobey Maguire.[16] Tuy nhiên Maguire đã hồi phục và phần tiếp theo được bấm máy mà không có Gyllenhaal.[17] (Hai diễn viên này, sau đó đóng vai hai anh em trong Brothers, giống nhau đến mức Gyllenhaal vẫn đùa rằng các tài xế taxi thường gọi anh là "Người Nhện".)[18] Thay vào đó, Gyllenhaal thủ vai chính trong phim bom tấn The Day After Tomorrow năm 2004, với Dennis Quaid trong vai người bố.[4][19]

Trên sân khấu kịch, Gyllenhaal có màn ra mắt sân khấu Luân Đôn với vai chính trong bản làm lại This is Our Youth của Kenneth Lonergan.[20] Gyllenhaal nói rằng, "Tất cả những diễn viên tôi ngưỡng mộ đều tham gia sân khấu kịch, vì vậy tôi biết rằng tôi phải thử sức mình."[21] Vở kịch, là một hiện tượng tại Broadway, đã diễn tám tuần tại trung tâm West End của Luân Đôn. Gyllenhaal đón nhận những ý kiến đánh giá tích cực từ giới phê bình và giành giải thưởng Evening Standard Theatre Award cho hạng mục "Diễn viên mới xuất sắc."[22][23]

Brokeback Mountain và những vai diễn sau đó[sửa | sửa mã nguồn]

Gyllenhaal trong buổi ra mắt bộ phim Proof năm 2005

Năm 2005, Gyllenhaal góp mặt trong những bộ phim được giới phê bình khen ngợi như Proof, Jarhead, và Brokeback Mountain. Trong Proof , với sự tham gia của Gwyneth PaltrowAnthony Hopkins, Gyllenhaal thủ vai một sinh viên cao học ngành toán cố gắng thuyết phục nhân vật của Paltrow công bố một chứng minh có tính cách mạng về một bài toán đang làm đau đầu giới toán học. Trong Jarhead, Gyllenhaal vào vai một lính thủy đánh bộ Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất. Anh cũng tham gia thử vai Batman trong một trong những phim bom tấn lớn nhất, Batman Begins[24] và đã tiến rất gần đến vai diễn[25] nhưng Christian Bale là người cuối cùng được chọn.

Trong Brokeback Mountain, Gyllenhaal[26]Heath Ledger vào vai hai người đàn ông trẻ gặp nhau khi làm những người chăn cừu và bắt đầu một mối quan hệ tình dục vào năm 1963 và kéo dài 20 năm. Bộ phim thường được giới truyền thông đề cập với cụm từ viết tắt "bộ phim cao bồi đồng tính nam" ("the gay cowboy movie")[27], cho dù có ý kiến khác nhau về xu hướng tình dục của các nhân vật trong phim. Bộ phim giành giải Sư tử vàng tại Liên hoan phim Venice, tiếp tục giành bốn giải Quả cầu vàng, bốn giải BAFTA, và ba giải Oscar. Gyllenhaal được đề cử giải Oscar trong hạng mục Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất cho màn trình diễn của mình, nhưng thất bại dưới tay George Clooney trong phim Syriana. Gyllenhaal cũng giành giải BAFTA cho Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất và được đề cử trong hạng mục Nam diễn viên phụ và Dàn diễn viên xuất sắc nhất tại giải thưởng Screen Actors Guild. Cũng với Brokeback Mountain, anh và Ledger giành giải Điện ảnh của MTV trong hạng mục "Nụ hôn đẹp nhất" năm 2006. Không lâu sau giải Oscar năm 2006, Gyllenhaal được mời vào Viện hàn lâm như một sự thừa nhận cho sự nghiệp diễn xuất của anh.[28] Gyllenhaal cũng giành giải Nghệ sĩ mới trong buổi trao giải Nghệ thuật Quốc gia cho vai diễn của mình.

Gyllenhaal có những cảm giác khác nhau về trải nghiệm làm việc cùng đạo diễn Lý An trong phim Brokeback Mountain, nhưng nói chung anh có nhiều lời khen ngợi hơn là chê trách. Trong khi phàn nàn về việc đạo diễn Lý có xu hướng giữ khoảng cách với diễn viên trong quá trình làm phim, Gyllenhaal khen ngợi khả năng động viên cũng như cách tiếp cận tinh tế của ông.[29][30] Tại lễ trao giải của Hội Đạo diễn Hoa Kỳ diễn ra ngày 28 tháng Một năm 2006, Gyllenhaal cũng ca ngợi Lý An vì "sự khiêm tốn và sự tôn trọng dành cho mọi người xung quanh."[31]

Khi được hỏi về những cảnh hôn nhau cùng Heath Ledger trong Brokeback Mountain,Gyllenhall nói "Là một diễn viên, tôi nghĩ chúng tôi nên chấp nhận những khoảnh khắc chúng tôi thấy khó chịu nhất."[32] Khi được hỏi về những cảnh quay nhạy cảm hơn với Ledger, Gyllenhaal ví chúng như là "đang đóng cảnh làm tình với một phụ nữ tôi không có hứng thú."[26] Sau khi Brokeback Mountain ra mắt, có những tin đồn xuất hiện xung quanh xu hướng tình dục của Gyllenhaal.

Gyllenhaal tại Liên hoan phim quốc tế Toronto 2013

Gyllenhaal dẫn truyện trong bộ phim ngắn The Man Who Walked Between the Towers năm 2005,[33] dựa theo cuốn sách cùng tên của Mordicai Gerstein kể về màn đi trên dây nổi tiếng của Philippe Petit.[34] Tháng 1 năm 2007, khi làm dẫn chuơng trình Saturday Night Live, anh mặc một bộ váy dạ hội lấp lánh và hát bài "And I Am Telling You I'm Not Going" trong vở nhạc kịch Dreamgirls trong phần giới thiệu đầu chuơng trình,[35] dành tặng cho "những người hâm mộ đặc biệt...những người hâm mộ Brokeback."[36]

Năm 2007, Gyllenhaal thủ vai chính trong phim Zodiac của đạo diễn David Fincher, dựa trên một câu chuyện có thật. Anh vào vai Robert Graysmith, một họa sĩ làm việc cho tờ San Francisco Chronicle và là tác giả của hai cuốn sách về sát thủ Zodiac. Anh đóng cùng Meryl Streep, Alan ArkinReese Witherspoon trong bộ phim Rendition ra mắt tháng 10 năm 2007 nói về chính sách dẫn độ các nghi phạm người nước ngoài đến các quốc gia khác để thẩm vấn.[37] Năm 2009,anh xuất hiện cùng Tobey Maguire trong phiên bản làm lại từ bản gốc năm 2004 của bộ phim Đan Mạch Brothers.[38] Năm 2008, có tin cho rằng Gyllenhaal sẽ đóng trong phim hài Nailed cùng Jessica Biel,[39] cũng như bộ phim chưa được đặt tên của Doug Liman về cuộc đổ bộ lên Mặt Trăng.[40] Năm tiếp theo,Gyllenhaal thủ vai chính trong bộ phim chuyển thể từ trò chơi Prince of Persia: The Sands of Time (Hoàng tử Ba Tư: Dòng cát thời gian), đựoc sản xuất bởi Jerry Bruckheimer và ra mắt bởi Disney ngày 28 tháng 5 năm 2010, và trong bộ phim hài tình cảm Love and Other Drugs, ra mắt ngày 24 tháng 11 năm 2010, bộ phim giúp anh giành một đề cử giải Quả cầu Vàng.

Năm 2012, Gyllenhaal đóng cùng Michael Peña trong bộ phim của đạo diễn David Ayer End of Watch nói về hai cảnh sát Los Angeles.[41] Bộ phim ra mắt ngày 21 tháng 9 năm 2012 và nhận được những phản hồi tích cực. Nhà phê bình Roger Ebert nhận xét "End of Watch là một trong những bộ phim cảnh sát hay nhất trong những năm gần đây, một sự hợp nhất bậc thầy giữa biểu diễn và những cảnh hành động thót tim."[42] Andrew O'Hehir trên trang Salon.com thì cho rằng đây "ít nhất là bộ phim cảnh sát hay nhất kể từ We Own the Night của James Gray hay Training Day của Antoine Fuqua (không phải ngẫu nhiên mà Ayer cũng viết kịch bản cho phim này)".[43] Để chuẩn bị cho vai diễn này, Gyllenhaal đã phải tham gia huấn luyện chiến thuật và những lần đi tuần thật sự cùng bạn diễn Michael Peña để nắm được ngôn ngữ của các nhân vật.[44]

Năm 2014, Gyllenhaal diễn hai vai trong bộ phim Enemy, và sản xuất cũng như thủ vai chính trong bộ phim Nightcrawler, nhận được một đề cử Quả cầu Vàng và một đề cử từ giải thưởng của Hội Diễn viên Điện ảnh cho bộ phim thứ hai. Anh sẽ tiếp tục với Everest, dựa theo thảm họa trên đỉnh Everest năm 1996, phim hài tâm lý Demolition của đạo diễn Jean-Marc ValléeSouthpaw của Antoine Fuqua.

Anh được chọn làm khám giảo cho những giải thưởng chính tại Liên hoan phim Cannes 2015.[45][46]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình và các mối quan hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình Gyllenhaal gồm đạo diễn Stephen Gyllenhaal, biên kịch Naomi Foner cùng hai diễn viên Jake và Maggie Gyllenhaal. Maggie kết hôn với Peter Sarsgaard, bạn diễn của Gyllenhaal trong JarheadRendition. Tháng 12 năm 2006, hai chị em Gyllenhaal thoát chết trong vụ cháy nhà hàng Manka's tại Inverness, California, nơi họ đang đi nghỉ.[47]

Cháu gái của Gyllenhaal, Ramona Sarsgaard chào đời ngày 3 tháng 10 năm 2006. Gyllenhaal có cả cha và mẹ đỡ đầu, những người mà anh miêu tả là "cha mẹ đỡ đầu nổi tiếng". Nam diễn viên và đạo diễn Paul Newman là cha đỡ đầu của anh,[48] trong khi nữ diễn viên Jamie Lee Curtis là mẹ đỡ đầu.[4][48] Những cha mẹ đỡ đầu khác của anh bao gồm một cặp đồng tính nam[49][50] và đạo diễn hình ảnh Robert Elswit.[51][52] Bản thân Gyllenhaal cũng là cha đỡ đầu của Matilda Rose Ledger (sinh ngày 28 tháng 10 năm 2005), con gái của Heath LedgerMichelle Williams, đều là bạn diễn của anh trong Brokeback Mountain.[53]

Từ năm 2002, Gyllenhaal hẹn hò với nữ diễn viên Kirsten Dunst trong vòng gần hai năm.[54] Sau đó anh qua lại với bạn diễn trong Rendition Reese Witherspoon từ năm 2007 đến năm 2009.[55][56][57][58] Anh có quan hệ tình cảm với ca sĩ-nhạc sĩ Taylor Swift từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 1 năm 2011,[59][60][61] (xem thêm "We Are Never Ever Getting Back Together") và người mẫu Alyssa Miller từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2013.[62][63]

Chính trị và các sở thích khác[sửa | sửa mã nguồn]

Gyllenhaal hoạt động chính trị tích cực. Anh tham gia một quảng cáo cho tổ chức phi lợi nhuận Rọck the vote, và cùng với chị gái đến thăm Đại học Nam California để khuyến khích sinh viên tham gia bỏ phiếu trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2004.[64] Anh cũng tham gia vào chiến dịch tranh cử của ứng cử viên đảng Dân chủ John Kerry.[65] Tuy nhiên anh vẫn tránh né nói đến các vấn đề chính trị. Trong một cuộc phỏng vấn cho bộ phim Rendition, anh nói rằng "đó là một quãng thời gian không vui vẻ gì khi diễn viên là chính trị gia, còn chính trị gia thì lại là diễn viên".[66]

Lớn lên trong gia đình quan tâm đến các vấn đề xã hội, năm 2003 Gyllenhaal tham gia vào một chiến dịch quảng cáo của American Civil Liberties (Các quyền tự do của công dân Mỹ), một tổ chức mà cả gia đình anh ủng hộ mạnh mẽ.[67] Có ý thức bảo vệ môi trường, anh tái chế rác thải thường xuyên, và nói trong một cuộc phỏng vấn rằng mình bỏ 400 đô la Mỹ mỗi năm để trồng cây tại Mozambique, một phần để quảng bá chuơng trình Future Forests.[68] Sau khi đóng máy bộ phim The Day After Tomorrow, anh bay đến Bắc cực để nâng cao nhận thức về sự biến đổi khí hậu.[69][70] Gyllenhaal là thành viên danh dự trong Hội đồng Cố vấn của Ney Eyes For the Needy, tổ chức phi lợi nhuận cung cấp kính mắt tái chế tại Mỹ;[71] và tham gia vào chuơng trình từ thiện Stand Up to Cancer.[72]

Những lúc rảnh rỗi, Gyllenhaal thích nấu nướng và làm đồ mộc.[73] Khi được hỏi về việc trở thành một Phật tử, anh trả lời, "Tôi không kè kè bên mình một cái biển có ghi Phật tử, nhưng tôi luôn có gắng tĩnh tâm" và anh cũng ngồi thiền mỗi ngày.[74]

Ngày 19 tháng 12 năm 2011, anh được chọn làm thành viên ban giám khảo Liên hoan phim quốc tế Berlin lần thứ 62, được bắt đầu vào tháng 2 năm 2012.[75]

Hình ảnh trên các phương tiện truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Gyllenhaal có tên trong danh sách "50 người đẹp nhất thế giới" năm 2006 của tạp chí People.[76] Cùng năm đó anh cũng góp mặt trong danh sách "Những người độc thân quyến rũ nhất" cũng của tạp chí này.[77] Bên cạnh các thông tin chính thống kể trên, Gyllenhaal cũng đứng đầu danh sách những người quyến rũ nhất trong mắt những người đồng tính và lưỡng tính nam các năm 2007 và 2008.[78][79] Tháng 4 năm 2012, trang web truyền thông Shalom Life xếp anh đứng thứ 6 trong số "50 người đàn ông Do Thái tài năng, thông minh, hài hước và quyến rũ nhất thế giới."[80]

Các phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Kết quả Phim/Kịch
1999 Teen Choice Awards Giải Đột phá trong hạng mục Điện ảnh Đề cử October Sky
1999 YoungStar Awards Nam diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất Đề cử October Sky
2000 Young Artist Awards Nam diễn viên phim điện ảnh xuất sắc nhất Đề cử October Sky
2002 Young Hollywood Awards Nam diễn viên có màn trình diễn đột phá Đoạt giải[81] Donnie Darko
2002 Independent Spirit Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử Donnie Darko
2002 Evening Standard Award Ngôi sao mới xuất sắc Đoạt giải This is Our Youth
2003 Teen Choice Awards Nam diễn viên đột phá Đề cử The Good Girl
2003 Teen Choice Awards Màn khóa môi hấp dẫn nhất trên màn ảnh Đề cử The Good Girl
2004 Irish Film & Television Awards Nam diễn viên quốc tế xuất sắc nhất Đề cử The Day After Tomorrow
2005 Gotham Awards Dàn diễn viên xuất sắc nhất Đề cử Brokeback Mountain
2005 National Board of Review Awards Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất Đoạt giải Brokeback Mountain
2005 Dallas–Fort Worth Film Critics Association Awards Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất Đề cử Brokeback Mountain
2005 Phoenix Film Critics Society Awards Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất Đoạt giải Brokeback Mountain
2005 San Diego Film Critics Society Awards Giải thưởng đặc biệt Đoạt giải
2006 Online Film Critics Society Awards Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất Đề cử Brokeback Mountain
2006 Austin Film Critics Association Awards Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất Đề cử Brokeback Mountain
2006 North Texas Film Critics Association Awards Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất Đoạt giải Brokeback Mountain
2006 Chicago Film Critics Association Awards Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất Đề cử Brokeback Mountain
2006 Central Ohio Film Critics Association Awards Dần diễn viên xuất sắc nhất Đề cử Brokeback Mountain
2006 Screen Nam diễn viêns Guild Awards Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất Đề cử Brokeback Mountain
2006 Screen Nam diễn viêns Guild Awards Dàn diễn viên xuất sắc nhất Đề cử Brokeback Mountain
2006 Critics' Choice Awards Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất Đề cử Brokeback Mountain
2006 BAFTA Awards Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất Đoạt giải Brokeback Mountain
2006 Palm Springs International Film Festival Awards Giải thành tựu dành cho nam diễn viên Đoạt giải Brokeback Mountain
2006 Giải Oscar Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất Đề cử Brokeback Mountain
2006 Satellite Awards Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất Đề cử Brokeback Mountain
2006 Satellite Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử Jarhead
2006 MTV Movie Awards Nam diễn viên xuất sắc nhất Đoạt giải Brokeback Mountain
2006 MTV Movie Awards Nụ hôn hấp dẫn nhất màn ảnh Đoạt giải Brokeback Mountain
2006 National Arts Awards Nghệ sĩ trẻ xuất sắc nhất Đoạt giải[82]
2008 Teen Choice Awards Nam diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất Đề cử Rendition
2010 Teen Choice Awards Nam diễn viên phim viễn tưởng xuất sắc nhất Đề cử Prince of Persia: The Sands of Time
2010 Teen Choice Awards Nam diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất Đề cử Brothers
2010 Satellite Awards Nam diễn viên phim hài và phim ca nhạc xuất sắc nhất Đề cử Love and Other Drugs
2011 Giải Quả cầu vàng Nam diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất Đề cử Love and Other Drugs
2011 Scream Awards Nam diễn viên phim khoa học viễn tưởng xuất sắc nhất Đề cử Source Code
2013 Critics' Choice Movie Awards Nam diễn viên phim hành động xuất sắc nhất Đề cử End of Watch
2013 Hollywood Film Festival Nam diễn viên phụ của năm Đoạt giải Prisoners
2013 National Board of Review Awards Dàn diễn viên xuất sắc nhất Đoạt giải Prisoners
2014 Satellite Awards Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất Đề cử Prisoners
2014 Canadian Screen Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử Enemy
2014 San Francisco Film Critics Circle Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử Nightcrawler
2014 Detroit Film Critics Society Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử Nightcrawler
2014 San Diego Film Critics Society Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đoạt giải Nightcrawler
2014 Chicago Film Critics Association Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử Nightcrawler
2014 Dallas-Fort Worth Film Critics Association Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử Nightcrawler
2014 Online Film Critics Society Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử Nightcrawler
2014 St. Louis Gateway Film Critics Association Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đoạt giải Nightcrawler
2014 Toronto Film Critics Association Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử Nightcrawler
2014 Austin Film Critics Association Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đoạt giải Nightcrawler
2014 Florida Film Critics Circle Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử Nightcrawler
2014 Nevada Film Critics Society Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đoạt giải Nightcrawler
2014 Dublin Film Critics' Circle Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đoạt giải[83] Nightcrawler
2015 North Texas Film Critics Association Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đoạt giải[84] Nightcrawler
2015 Vancouver Film Critics Circle Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đoạt giải[85] Nightcrawler
2015 Vancouver Film Critics Circle Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất trong phim Canada Đề cử[85] Enemy
2015 Central Ohio Film Critics Association Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đồng hạng nhì Nightcrawler
2015 Central Ohio Film Critics Association Awards Nam diễn viên của năm Đoạt giải Enemy, Nightcrawler
2015 Georgia Film Critics Association Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đoạt giải Nightcrawler
2015 Giải Quả cầu vàng Nam diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất Đề cử Nightcrawler
2015 Houston Film Critics Society Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đoạt giải Nightcrawler
2015 Alliance of Women Film Journalists Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử Nightcrawler
2015 Denver Film Critics Society Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử Nightcrawler
2015 Critics' Choice Movie Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử Nightcrawler
2015 London Film Critics Circle Awards Nam diễn viên của năm Đề cử Nightcrawler
2015 Screen Nam diễn viêns Guild Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử Nightcrawler
2015 AACTA Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử Nightcrawler
2015 Satellite Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử Nightcrawler
2015 BAFTA Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử Nightcrawler
2015 Independent Spirit Awards Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử Nightcrawler

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Stated on Finding Your Roots with Henry Louis Gates, Jr., PBS, ngày 22 tháng 4 năm 2012
  2. ^ Contact Music (ngày 6 tháng 11 năm 2005), "Gyllenhaal's Homeless Shelter Bar-Mitzvah". Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2006.
  3. ^ Lipworth, Elaine (ngày 1 tháng 1 năm 2011). “Jake Gyllenhaal: My family values”. The Guardian (UK). Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011. 
  4. ^ a ă â b Schruers, Fred (ngày 30 tháng 10 năm 2005), "Jake's progress",The Guardian. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2006.
  5. ^ Horn, Steven (2004), "Interview with Jake Gyllenhaal", Ign.com. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2006.
  6. ^ a ă Wills, Dominic (2006), "Jake Gyllenhaal biography", Tiscali.com, page 4. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2006.
  7. ^ Snider, Mike (ngày 2 tháng 2 năm 2005), "'Darko' takes a long, strange trip",USA Today. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2006.
  8. ^ Kois, Dan (July 23, 2004), "Everything you were afraid to ask about "Donnie Darko"",Salon.com. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2006.
  9. ^ Mairs, Gary, “Donnie Darko review”. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2006. ,CultureVulture.net. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2006.
  10. ^ Wills, Dominic (2006), "Jake Gyllenhaal biography", Tiscali.com, page 7. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2006.
  11. ^ Hubbell, Anne (January 16, 2002), "Director, writer talk about 'The Good Girl'", CNN Entertainment. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015.
  12. ^ Michael, David (October 21, 2002), BBC Films. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2006.
  13. ^ Gonzalez, Ed (2001), Slant Magazine review. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2006.
  14. ^ RottenTomatoes.com compilation of critical reviews. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2006.
  15. ^ Murray, Rebecca (2006), "Jake Gyllenhaal and Brad Silberling Talk About "Moonlight Mile"", About.com. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2006.
  16. ^ Otto, Jeff. "An Interview with Tobey Maguire." IGN, July 23, 2003. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2007.
  17. ^ Morales, Wilson (June 2004), "Spiderman 2: An Interview with Sam Raimi", Blackfilm.com. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2006.
  18. ^ Lawrence, Will (7 tháng 1 năm 2010). “Jake Gyllenhaal interview”. Daily Telegraph. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2013. 
  19. ^ Mottram, James (May 12, 2004), BBC Film. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2006.
  20. ^ Billington, Michael (March 18, 2002), This Is Our Youth review, The Guardian. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2006.
  21. ^ Gritten, David (April 13, 2002), "Fast growing up to be famous", The Telegraph. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2006.
  22. ^ Loveridge, Lizzie (March 2002), "A CurtainUp London Review: This is Our Youth", CurtainUp.com. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2006.
  23. ^ Albemarle-London, Albemarle tại Wayback Machine (lưu trữ ngày 23 tháng tháng 10 năm 2006). Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2006.
  24. ^ Silverman, Stephen M. Jake Gyllenhaal: The New Batman?, People, September 3, 2003. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009.
  25. ^ Otto, Jeff. “David S. Goyer Talks Batman, Iron Man, Comics and More – Movies Feature at IGN”. Movies.ign.com. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010. 
  26. ^ a ă Hiscock, John (December 12, 2005), " The one Jake: why Gyllenhaal spells success",The Telegraph. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm, 2006.
  27. ^ Cheshire, Godfrey (4 tháng 1 năm 2006). “Somewhere over the rainbow”. The Independent Weekly. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2008. 
  28. ^ “Academy of Motion Picture Arts, Sciences invites 120 new members” (Thông cáo báo chí). USA Today. 6 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2015. 
  29. ^ Wenn, "Jake Gyllenhaal Suffered with Unfriendly Ang Lee",Hollywood.com. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2006.
  30. ^ Cavagna, Carla (December 2005), "Interview: Jake Gyllenhaal", aboutfilm.com. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2006.
  31. ^ CBS news, AP, (January 26, 2005), "'Brokeback' Director Grabs Top Award". Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2006.
  32. ^ "My Beautiful Career: Jake Gyllenhaal", Examiner. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2015.
  33. ^ “Amazon ad listing Gyllenhaal as star and narrator”. Amazon.com. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010. 
  34. ^ Willems, Weston Woods win 2007 Carnegie Medal for “Knuffle Bunny” Andrew Carnegie Medal Winner, 2007. Author/Illustrator Mo Willems and Weston Woods Studios. Association for Library Service to Children. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2006.
  35. ^ Edgeboston.com (January 17, 2007), YouTube Extras: Jake as Effie, and a Musical "Scrubs". Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2007.
  36. ^ Saturday Night Live Opening Monologue, [1].
  37. ^ Mcnary, Dave, Fleming, Michael (September 26, 2006), "New Line renders cast", Variety.com. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2006.
  38. ^ Siegel, Tatiana (October 2, 2007), "Natalie Portman to star in 'Brothers'", Variety.com. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2007.
  39. ^ Hambrick, Greg (2008). “SC Statehouse to Double as Capitol Hill; Gyllenhaal and Biel to Star”. Charleston City Paper. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2008. 
  40. ^ Siegel, Tatiana (October 8, 2007), Jake Gyllenhaal flies to the 'Moon', Variety.com. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2007.
  41. ^ “End of Watch”. IMDB.com. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2012. 
  42. ^ “End of Watch review”. RogerEbert.com. 19 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2012. 
  43. ^ “Pick of the Week: An All-Time Cop Movie Classic”. Salon.com. 20 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2012. 
  44. ^ “Jake Gyllenhaal on building character with language off Broadway and in 'End of Watch'”. HitFix.com. 30 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2012. 
  45. ^ “The Jury of the 68th Cannes Film Festival”. Cannes Film Festival. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2015. 
  46. ^ “Jake Gyllenhaal, Sienna Miller and Guillermo del Toro Join Cannes Film Festival Jury”. The Wrap. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2015. 
  47. ^ Whitaker, Tad (ngày 27 tháng 12 năm 2006), Inverness fire engulfs lodge, Manka's eatery, Marin Independent Journal. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2006.
  48. ^ a ă Farndale, Nigel (ngày 21 tháng 10 năm 2007). “Jake Gyllenhaal: 'Aggression is a part of me'”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2014. 
  49. ^ Sumi, Glenn (ngày 15 tháng 12 năm 2005). “Jake Gyllenhaal”. Now. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2014. 
  50. ^ Applebaum, Stephen (ngày 27 tháng 1 năm 2006). “BAFTA winner Jake Gyllenhaal - Love and war”. Netribution. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2014. 
  51. ^ Barnes, Henry (ngày 30 tháng 10 năm 2014). “Jake Gyllenhaal on Nightcrawler: ‘I’m a bit strange, you know?’”. The Guardian. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2014. 
  52. ^ “Jake Gyllenhaal sees light in the darkness of Nightcrawler”. CBC Radio. 10 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2015. 
  53. ^ “Jake Gyllenhaal to help a a devastated Michelle Williams”. Herald Sun. Ngày 24 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010. 
  54. ^ Thomas, Karen (ngày 20 tháng 7 năm 2004). “Gyllenhaal, Dunst call it quits”. USA Today. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2010. 
  55. ^ “Reese Witherspoon & Jake Gyllenhaal Get Close”. People. Ngày 5 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2008. 
  56. ^ “Reese Witherspoon On Kids, Jake, And Working With Vince Vaughn”. Huffington Post. USA. Ngày 14 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2008. 
  57. ^ Wihlborg, Ulrica; Stephen M. Silverman (ngày 29 tháng 11 năm 2009). “Reps Claim Jake and Reese Are Still Together”. People. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2009. 
  58. ^ “Reese Leaves Jake; "It Broke His Heart"”. Us Weekly. Ngày 16 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2010. 
  59. ^ Hammel, Sara (ngày 25 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift & Jake Gyllenhaal Share a 'Friendly' Brunch in Brooklyn”. People. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  60. ^ Hammel, Sara (ngày 4 tháng 1 năm 2011). “Taylor Swift & Jake Gyllenhaal Break Up: Source”. People. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  61. ^ West, Kay (ngày 20 tháng 1 năm 2011). “Taylor Swift & Jake Gyllenhaal: Back Together Again?”. People. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  62. ^ “Jake Gyllenhaal Takes a Kiss-Filled Bike Ride with SI Model Alyssa Miller”. PEOPLE.com. Truy cập 15 tháng 2 năm 2015. 
  63. ^ Jake Gyllenhaal & Girlfriend Alyssa Miller Enjoy a Day Out in New York | E! Online
  64. ^ Nichols, Kara (ngày 21 tháng 9 năm 2004), "Celebrities rally voters", The Daily Trojan. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2014.
  65. ^ Silverman, Stephen, "Jake Gyllenhaal Eyeing Broadway Debut", People. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2015.
  66. ^ Jake Gyllenhaal: How do you pronounce that? video interview with stv.tv
  67. ^ Dennis Van Tine, Jen Lowery, Bennett Marcus (ngày 4 tháng 10 năm 2005), "ACLU Freedom Concert", Open all night. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2006.
  68. ^ Foley, Jack (2003), "The Day After Tomorrow – Jake Gyllenhaal Q&A", Indie London. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2006.
  69. ^ Eilperin, Juliet (ngày 26 tháng 4 năm 2005), "Ice Crusade", The Washington Post. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2006.
  70. ^ Spectral Productions Inc. (ngày 21 & 22 tháng 4 năm 2005), Arctic Wisdom. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2006.
  71. ^ "Jake Gyllenhaal is the Honorary Chair of the New Eyes For The Needy Advisory Board" tháng 11 năm 2012
  72. ^ “Fox, Jake Gyllenhaal Join Stand Up To Cancer”. TVGuide.com. 
  73. ^ Femalefirst (2006), "Carpenter Jake Gyllenhaal". Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2006.
  74. ^ Huschke, Roland, "Jake Gyllenhaal im Exklusiv-Interview", OK!. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2015.
  75. ^ “Berlinale 2012: International Jury”. berlinale.de. Ngày 19 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2011. 
  76. ^ People Magazine, "50 Most Beautiful People", ngày 28 tháng 4 năm 2006.
  77. ^ People magazine, (ngày 10 tháng 11 năm 2005), "Ten Things to Love about Jake". Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2006.
  78. ^ Jensen, Michael. (ngày 23 tháng 7 năm 2007), "The AfterElton.com Hot 100 List", The Backlot. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2007.
  79. ^ “AfterElton’s Hot 100 for 2008”. The Backlot. Truy cập 17 tháng 6 năm 2015. 
  80. ^ Ashley Baylen (ngày 20 tháng 4 năm 2012). “Top 50 Hottest Jewish Men (10–1)”. Shalom Life. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2013. 
  81. ^ “Young Hollywood Awards”. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2010. 
  82. ^ “National Arts Awards”. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2007. 
  83. ^ “Dublin critics award 'Boyhood,' 'Frank,' Jake Gyllenhaal and Marion Cotillard”. HitFix. Ngày 17 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014. 
  84. ^ “'Boyhood,' Gyllenhaal, Pike tops with North Texas film critics”. Hitfix. Ngày 5 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2015. 
  85. ^ a ă “Vancouver critics go with 'Boyhood,' Gyllenhaal, Swinton”. Hitfix. Ngày 5 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]