Java

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Java
Tên bản địa: Jawa

Bản đồ địa hình Java
Địa lý
Vị trí Đông Nam Á
Tọa độ 7°29′30″N 110°00′16″Đ / 7,49167°N 110,00444°Đ / -7.49167; 110.00444Tọa độ: 7°29′30″N 110°00′16″Đ / 7,49167°N 110,00444°Đ / -7.49167; 110.00444
Quần đảo Quần đảo Sunda Lớn
Diện tích 138.794 km2 (53.588,7 mi2)
Thứ hạng diện tích 13
Độ cao nhất 3.676 m (12.060 ft)
Điểm cao nhất Semeru
Hành chính
Đơn vị hành chính Banten,
Jakarta,
Tây Java,
Trung Java,
Đông Java,
Yogyakarta
Thành phố lớn nhất Jakarta
Nhân khẩu học
Dân số 138 triệu (theo 2011)
Mật độ 1.064 /km2 (2.756 /sq mi)
Dân tộc Java (bao gồm Cirebon, Tengger, Osing), Sunda (bao gồm Banten, Baduy), Betawi, Madura

Java (tiếng Indonesia: Jawa) là một đảo tại Indonesia. Với 135 triệu người, Java là đảo đông dân nhất thế giới, và là một trong những vùng có mật độ dân số cao nhất toàn cầu. Java là nơi sinh sống của 60 phần trăm cư dân Indonesia. Thủ đô Jakarta của Indonesia nằm ở tây bộ của Java. Phần lớn các sự kiện lịch sử của Indonesia diễn ra tại Java. Hòn đảo là trung tâm của một số đế quốc Ấn Độ giáo-Phật giáo, vương quốc Hồi giáo hùng mạnh, và là hạch tâm của Đông Ấn Hà Lan. Java là trung tâm của cuộc đấu tranh giành độc lập cho Indonesia vào thập niên 1930 và 40. Java chiếm ưu thế về chính trị, kinh tế và văn hóa tại Indonesia.

Java hình thành chủ yếu là từ kết quả của những vụ núi lửa phun trào, với diện tích lớn thứ 13 thế giới và lớn thứ 5 tại Indonesia. Một chuỗi các núi lửa tạo thành xương sống của đảo theo chiều đông-tây. Trên đảo có ba ngôn ngữ chính, trong đó tiếng Java chiếm ưu thế, và là ngôn ngữ bản địa của khoảng 60 triệu người tại Indonesia, hầu hết trong số họ sống tại Java. Hầu hết cư dân trên đảo là người song ngữ, tiếng Indonesia là ngôn ngữ thứ nhất hoặc thứ hai của họ. Phần lớn cư dân Java là người Hồi giáo, tuy nhiên hòn đảo vẫn có sự hòa trộn đa dạng từ các niềm tin tôn giáo, dân tộc, và văn hóa.

Java được chia thành bốn tỉnh, Tây Java, Trung Java, Đông Java, và Banten, cùng với hai khu đặc biệt là, JakartaYogyakarta.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc tên gọi "Java" không rõ ràng. Một khả năng là hòn đảo được đặt theo tên của loài jáwa-wut, loài kê này thường thấy trên đảo, và có nhiều tên gọi trước khi đảo được Ấn hóa.[1] Có những giả thuyết khác: từ jaú và các biến thể của nó có nghĩa là "xa".[2] và, trong tiếng Phạn yava có nghĩa là đại mạch, một loài khiến cho hòn đảo trở nên nổi danh.[2] "Yawadvipa" được đề cập đến trong sử thi sớm nhất của Ấn ĐộRamayana. Sugriva, chỉ huy đội quân của Rama phái người của ông đến Yawadvipa, đảo Java, để tìm Sita.[3] Do vậy, ở Ấn Độ, Java còn được gọi bằng tên tiếng Phạn "yāvaka dvīpa" (dvīpa = đảo). Nguồn khác thì nói rằng từ "Java" có nguồn gốc Nam Đảo nguyên thủy, có nghĩa là 'nhà' hay 'quê hương'.[4]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Java nằm giữa Sumatra ở phía tây và Bali ở phía đông. Borneo nằm ở phía bắc và đảo Christmas ở phía nam. Đây là đảo có diện tích lớn thứ 13 trên thế giới. Bao quanh đảo Java là biển Java ở phía bắc, eo biển Sunda ở phía tây, Ấn Độ Dương ở phía nam và eo biển Bali cùng eo biển Madura ở phía đông.

Java gần như hoàn toàn có nguồn gốc núi lửa; đảo có 38 núi tạo thành một xương sống theo chiều đông-tây từng một thời hay vào các thời điểm khác nhau là núi lửa hoạt động. Núi lửa cao nhất tại Java và núi Semeru (3.676 m). Núi lửa hoạt động nhất tại Java cũng như tại Indonesia là núi Merapi (2,968 m).

Với việc có nhiều núi và cao nguyên, vùng nội địa của đảo bị phân chia thành một loạt các khu vực tương đối biệt lập phù hợp với canh tác lúa nước; các vùng đất trồng lúa tại Java nằm trong số những vùng đất tốt nhất thế giới.[5] Java là nơi đầu tiên tại Indonesia trồng cà phê, bắt đầu từ năm 1699. Hiện nay, Cà phê chè được trồng trên Cao nguyên Ijen.

Cao nguyên Parahyangan gần Buitenzorg, khoảng 1865-1872

Java có diện tích xấp xỉ 139.000 km².[6] với chiếu dài 650 mi (1.050 km) và chiều rộng 130 mi (210 km). Sông dài nhất trên đảo là sông Solo dài 600 km.[7] Sông bắt nguồn từ trung bộ Java tại núi Lawu, sau đó chảy về phía bắc và phía đông đến cửa sông gần thành phố Surabaya. Nhiệp độ trung bình năm tại Java là từ 22°C đến 29°C và độ ẩm trung bình là 75%. Đồng bằng ven biển phía bắc thường nóng hơn trung bình 34°C vào mùa khô. Bờ biển phía nam thường mát mẻ hơn phía bắc, khu vực cao nguyên ở nội địa cũng mát hơn. Mùa mưa bắt đầu vào tháng 10 và kết thúc vào tháng 4, khi đó mưa chủ yếu là vào buổi chiều và không liên tục vào những khoảng thời gian khác trong năm, tháng ẩm ướt nhất là tháng 1 và tháng 2. Tây Java ẩm ướt hơn Đông Java, và các vùng núi nhận được lượng mưa lớn hơn. Cao nguyên Parahyangan ở Tây Java có lượng mưa lên tới 4.000 mm hàng năm, trong khi bờ biển phía bắc của Đông Java có lượng mưa 900 mm mỗi năm.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Đảo Java bao gồm Thủ đô của Indonesia là Jakarta. Java là một hòn đảo đông đân cư, đây là nơi sinh sống của tới 60% dân cư nước này[8]

Với một diện tích 126.700 km² hòn đảo là nơi sinh sống của 124 triệu người, đạt mật độ 981 người /km², đây là khu vực có dân cư đông thứ 2 trên thế giới chỉ sau Bangladesh, ngoại trừ một vài thành phố nhỏ.

Từ thập niên 70 của thế kỷ 20, chính phủ nước này đã thực hiện chương trình di cư, di chuyển một phần dân cư từ hòn đảo này sang các hòn đảo khác ít người hơn. Tuy nhiên chương trình này đã vấp phải những khó khăn lớn như sự xung đột giữa người mới đến và người bản địa.

Trung tâm thủ đô Jakarta

Hòn đảo này được chia làm 4 tỉnh, 1 đặc khu* (daerah istimewa), và 1 thành phố thủ đô** (daerah khusus ibukota):

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Tín ngưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Dân cư trên đảo phần lớn là tín đồ Hồi Giáo (93%), dòng Abangan (40%) hay Chính thống (60%). Một số ít theo Hindu(1-2%).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết hữu ích[sửa | sửa mã nguồn]

Flag of Indonesia Tỉnh của Indonesia Coat of arm of Indonesia
Sumatra: Aceh | Bắc Sumatera | Tây Sumatera | Bengkulu | Riau | Quần đảo Riau | Jambi | Nam Sumatera | Lampung | Bangka-Belitung
Java: Jakarta | Tây Java | Banten | Trung Java | Yogyakarta | Đông Java
Kalimantan: Tây Kalimantan | Trung Kalimantan | Nam Kalimantan | Đông Kalimantan | Bắc Kalimantan
Quần đảo Nusa Tenggara: Bali | Tây Nusa Tenggara | Đông Nusa Tenggara
Sulawesi: Tây Sulawesi | Bắc Sulawesi | Trung Sulawesi | Nam Sulawesi | Đông Nam Sulawesi | Gorontalo
Quần đảo MalukuTây New Guinea: Maluku | Bắc Maluku | Tây Papua | Papua

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Raffles, Thomas E. : " The History of Java". Oxford University Press, 1965. Page 2
  2. ^ a ă Raffles, Thomas E. : "The History of Java". Oxford University Press, 1965. Page 3
  3. ^ History of Ancient India Kapur, Kamlesh
  4. ^ Hatley, R., Schiller, J., Lucas, A., Martin-Schiller, B., (1984). "Mapping cultural regions of Java" in: Other Javas away from the kraton. pp. 1–32.
  5. ^ Ricklefs, M.C. (1991). A History of Modern Indonesia since c.1300 (2nd edition). London: MacMillan. tr. 15. ISBN 0-333-57690-X. 
  6. ^ Monk,, K.A.; Fretes, Y., Reksodiharjo-Lilley, G. (1996). The Ecology of Nusa Tenggara and Maluku. Hong Kong: Periplus Editions Ltd. tr. 7. ISBN 962-593-076-0. 
  7. ^ Management of Bengawan Solo River Area Jasa Tirta I Corporation 2004. Retrieved 26 July 2006
  8. ^ Population of Indonesia by Province 1971, 1980, 1990, 1995 and 2000