Jean-Pierre Papin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Jean-Pierre Papin
Jean-Pierre Papin (2).jpg
Papin năm 2012
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Jean-Pierre Papin
Chiều cao 1,76 m (5 ft 9 in)
Vị trí Tiền đạo
CLB trẻ
1983–1984 INF Vichy
CLB Chuyên nghiệp*
Năm CLB Trận (Bàn)
1984–1985 Valenciennes 33 (15)
1985–1986 Club Brugge 31 (20)
1986–1992 Marseille 215 (134)
1992–1994 Milan 40 (18)
1994–1996 FC Bayern München 27 (3)
1996–1998 FC Girondins de Bordeaux 55 (22)
1998–1999 Guingamp 10 (3)
1999–2001 Saint-Pierroise 27 (13)
Tổng 438 (201)
Đội tuyển quốc gia
1986–1995 Pháp 54 (30)
Đội quản lý
2004–2006 Bassin d'Arcachon
2006–2007 Strasbourg
2007–2008 Lens
2009–2010 Châteauroux
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng
được ghi ở giải Vô địch quốc gia
.
† Số trận khoác áo (Số bàn thắng).

Sự nghiệp | caps(goals) = 00? 00(?)
033 0(15)
031 0(20)
215 (134)
040 0(18)
027 00(3)
055 0(22)
009 00(3)
410 (215) | nationalyears = 1986-1995 | nationalteam = Pháp | nationalcaps(goals) = 054 0(30) | manageryears = 2004-2006
2006-2007
2007-2008 | managerclubs = FC Bassin d'Arcachon
RC Strasbourg
RC Lens }} Jean-Pierre Papin (sinh 5 tháng 11 năm 1963 tại Boulogne-sur-Mer, Pháp) là một trong những cầu thủ bóng đá xuất sắc của Pháp, giành Quả bóng vàng châu Âu năm 1991.

Sự nghiệp cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp của mình tại câu lạc bộ Brugge năm 1985, nhưng anh đạt đến đỉnh cao khi chơi tại câu lạc bộ hàng đầu Pháp là Olympique Marseille ở vị trí trung phong với năm lần liên tiếp đoạt chức vua phá lưới giải vô địch quốc gia Pháp, từ 1988 đến 1992.

Mùa bóng 1992-1993, Papin chuyển sang A.C. Milan và gặp lại Olympique Marseille trong trận chung kết Champions League năm 1993. Kết quả là đội bóng mới của anh đã thua đội bóng cũ 0-1. Sau đó, Papin lần lượt trải qua các câu lạc bộ Bayern München, Girondins de Bordeaux, Guingamp trước khi giải nghệ năm 1999.

Sau khi từ giã sự nghiệp thi đấu chuyên nghiệp, anh tiếp tục chơi bóng cho đến năm 40 tuổi, khi đầu quân cho các đội bóng nghiệp dư gần nơi mình sinh sống: Jeunesse sportive Saint-Pierroise (tại đảo Reunion) và US Cap-Ferret, nơi anh đã ghi được tổng cộng 140 bàn trong ba mùa bóng.

Papin chơi cho đội tuyển Pháp 54 trận từ năm 1986 đến năm 1995, ghi 30 bàn. Thành tích cao nhất của anh khi chơi cho đội tuyển quốc gia là hạng ba World Cup 1986 tại Mexico. Anh đoạt giải Quả bóng vàng châu Âu 1991. Papin cũng có trong danh sách 125 cầu thủ hay nhất thế giới còn sống do FIFA bình chọn năm 2004, với những pha ngả bàn đèn đã trở thành kinh điển. Kỹ thuật này là thành quả của sự khổ luyện trong nhiều năm của anh, độ chuẩn xác và uy lực của cú sút bù đắp cho thể hình có phần khiêm tốn của Papin. Nó khiến cho anh trở thành một mẫu tiền đạo vô cùng độc đáo, khi là một trung phong cắm nhưng lại có khả năng ghi bàn từ xa. Ngày nay, động tác này mang tên anh, các cú papinade.

Sự nghiệp Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm thi đấu cho US Cap-Ferret, Papin tranh thủ thi lấy bằng Huấn luyện viên. CLB đầu tiên mà anh dẫn dắt là FC Bassin d'Arcachon, một đội thi đấu tại Division d'Honneur (Giải hạng 6 Pháp) nằm tại miền Tây nước Pháp. Dưới sự dẫn dắt của anh, đội đã giành được cúp vùng Aquitaine cũng như quyền thăng hạng, lên chơi ở giải CFA 2 (hạng 5) ở mùa bóng 2004-2005.

Đội bóng chuyên nghiệp đầu tiên mời anh về huấn luyện là RC Strasbourg tại mùa giải 2006-2007 ngay sau khi họ bị xuống hạng. Papin đã lèo lái đội khá thành công, giúp đội trở lại Ligue 1 chỉ sau đúng một năm thi đấu tại giải hạng hai. Nhưng tại cuối mùa bóng này, vì một số vấn đề nội bộ mà anh không tiếp tục dẫn dắt đội. Trong mấy tháng thất nghiệp, nhiều thông tin tuyên bố đội Flag of the People's Republic of China.svg Trung Quốc có mời anh về làm Huấn luyện viên trưởng đội tuyển quốc gia nước này nhưng anh từ chối. Anh cũng từ chối về dẫn dắt FC Nantes Atlantique.

Khi giải vô địch Pháp năm 2007-2008 khởi tranh được 4 vòng đấu, anh chính thức thay thế huấn luyện viên gạo cội Guy Roux về cầm quân RC Lens sau những kết quả khá thất vọng của đội này tại đầu mùa bóng. Nhưng Papin cũng không thể giúp đội dành quyền trụ hạng thành công với lực lượng cầu thủ không phải do anh lựa chọn trước khi mùa giải diễn ra. Kết thúc mùa bóng JPP thôi giữ chức huấn luyện viên trưởng của RC Lens. Ngay sau đó anh có một số lời đề nghị khác (như của FC Nantes Atlantique hay Châteauroux[1]) nhưng sau kinh nghiệm trên anh đều từ chối khi đánh giá chưa tìm được đội bóng và môi trường làm việc thích hợp.

Các danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Với Đội tuyển Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Với câu lạc bộ FC Brugge[sửa | sửa mã nguồn]

Với câu lạc bộ Olympique Marseille[sửa | sửa mã nguồn]

Với câu lạc bộ A.C. Milan[sửa | sửa mã nguồn]

Với câu lạc bộ FC Bayern München[sửa | sửa mã nguồn]

Các danh hiệu cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Thống kê thành tích từng mùa giải[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]