Jean Sibelius

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Jean sibelius

Johan Julius Christian "Jean" / "Janne" Sibelius (8 tháng 12 năm 1865 tại Hämeenlinna, Phần Lan - 20 tháng 9 năm 1957 tại Järvenpää, Phần Lan) là một nhà soạn nhạc Phần Lan cuối thời kỳ lãng mạn, ông được coi là một trong những nhà soạn nhạc nổi tiếng nhất giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Âm nhạc của ông đã góp một phần quan trọng trong việc xác định Phần Lan trên bản đồ âm nhạc thế giới.

Các tác phẩm chính của ông gồm bảy bản giao hưởng. Cũng giống như Beethoven, Sibelius sử dụng mỗi tác phẩm để hoàn thiện phong cách soạn nhạc mang cá tính riêng. Hiện nay, những tác phẩm này của Sibelius vẫn còn được thu âm và biểu diễn thường xuyên tại các buổi hòa nhạc.

Ngoài giao hưởng, Sibelius còn được biết đến với các tác phẩm như Finlandia, Valse Triste, Violin Concerto, Karelia SuiteSwan of Tuonela. Ngoài ra, ông còn sáng tác các tác phẩm dựa trên nguồn cảm hứng từ tập thơ Kalevala, 100 bài hát cho giọng ca và piano, nhạc nền (incidental music) cho 13 vở kịch, tác phẩm opera Jungfrun i tornet (Thiếu nữ trong tòa tháp), nhạc giao hưởng, nhạc piano. Ông cũng cho xuất bản 21 cuốn sách về hợp xướng, nhạc nghi lễ. Sibellius sáng tác rất nhiều tác phẩm cho đến tận giữa thập niên 1920. Tuy nhiên, sau khi hoàn thành bảy bản bản giao hưởng năm 1924 và bản thơ giao hưởng Tapiola năm 1926, ông không cho ra đời thêm bất cứ tác phẩm nào trong ba mươi năm cuối của cuộc đời. Tuy vậy thì dù mang tiếng không sáng tác nữa nhưng Sibellius vẫn tiếp tục viết nhạc và chỉnh sửa lại các tác phẩm đầu sự nghiệp của ông.

Danh mục tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Sáng tác cho dàn nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kullervo, Symphonic Poem for soprano, baritone, chorus and orchestra, Op. 7 (1892)
  • En Saga, Tone Poem for orchestra, Op. 9 (1892/1902)
  • Karelia Overture for orchestra, Op. 10 (1893)
  • Karelia Suite for orchestra, Op. 11 (1893)
  • Rakastava (The Lover) for male voices and strings or strings and percussion, Op. 14 (1893/1911)
  • Lemminkäinen Suite (Four Legends from the Kalevala) for orchestra, Op. 22 (1893) – these legends, which include The Swan of Tuonela, are often performed separately
  • Skogsrået (The Wood Nymph), Tone Poem for orchestra, Op. 15 (1894)
  • Vårsång (The Spring Song) for orchestra, Op. 16 (1894)
  • Kung Kristian II (King Christian II), Suite from the incidental music for orchestra, Op. 27 (1898)
  • Sandels, Improvisation for chorus and orchestra, Op. 28 (1898)
  • Finlandia for orchestra and optional chorus, Op. 26 (1899)
  • Snöfrid (The Beloved Beauty) for reciter, chorus and orchestra, Op. 29 (1899)
  • Tulen Synty (The Origin of Fire), Op. 32 (1902)
  • Symphony No. 1 in E minor for orchestra, Op. 39 (1899/1900)
  • Symphony No. 2 in D major for orchestra, Op. 43 (1902)
  • Violin Concerto in D minor, Op. 47 (1903/1905)
  • Kuolema (The Death) (Valse triste and Scene with Cranes) for orchestra, Op. 44 (1904/06)
  • Dance Intermezzo for orchestra, Op. 45/2 (1904/07)
  • Pelléas et Mélisande, Incidental music/Suite for orchestra, Op. 46 (1905)
  • Pohjolan tytär (Pohjola's Daughter), Tone Poem for orchestra, Op. 49 (1906)
  • Symphony No. 3 in C major for orchestra, Op. 52 (1907)
  • Svanevit (Swan-white), Suite from the incidental music for orchestra, Op. 54 (1908)
  • Nightride and Sunrise, Tone Poem for orchestra, Op. 55 (1909)
  • Dryadi (The Dryad) for orchestra, Op. 45/1 (1910)
  • Two Pieces from Kuolema for orchestra, Op. 62 (1911)
  • Symphony No. 4 in A minor for orchestra, Op. 63 (1911)
  • Scènes Historiques, Suite No. 2, Op. 66 (1912)
  • Two Serenades for violin and orchestra, Op. 69 (1912)
  • Barden (The Bard), Tone Poem for orchestra and harp, Op. 64 (1913/14)
  • Luonnotar (Spirit of Nature, Mother Earth), Tone Poem for soprano and orchestra, Op. 70 (1913)
  • Aallottaret (The Oceanides), Tone Poem for orchestra, Op. 73 (1914)
  • Impromptu, Op. 78 (1915)
  • Symphony No. 5 in E-flat major for orchestra, Op. 82 (1915, revised 1916 and 1919)
  • Oma Maa (My Own Land) for chorus and orchestra, Op. 92 (1918)
  • Jordens sång (Song of the Earth) for chorus and orchestra, Op. 93 (1919)
  • Valse Lyrique, Op. 96 (1920)
  • Symphony No. 6 in D minor for orchestra, Op. 104 (1923)
  • Symphony No. 7 in C major for orchestra, Op. 105 (1924)
  • The Tempest, Incidental music for soloists, chorus and orchestra, Op. 109 (1925)
  • Väinön virsi (Väinö's Hymn) for chorus and orchestra, Op. 110 (1926)
  • Tapiola, Tone Poem for orchestra, Op. 112 (1926)
  • Andante Festivo (for string quartet 1922; string orchestra and timpani 1938)
  • Suite for violin and strings, Op 117

Sáng tác khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Burnett-James, David (1989). Sibelius. Omnibus Press. ISBN 0-7119-1683-7.
  • Ekman, Karl (1972). Jean Sibelius, his Life and Personality. Greenwood Press. ISBN 0-8371-6027-8.
  • Pike, Lionel (1978). Beethoven, Sibelius and 'the Profound Logic': Studies in Symphonic Analysis. Athlone Press. ISBN 0-485-11178-0.
  • Tawaststjerna, Erik (1976). Sibelius. Volume I. University of California Press. ISBN 978-0520030145. Volume II. University of California Press. ISBN 978-0520058699.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:EB1922 Poster