Jeanne III của Navarre

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Jeanne d’Albret

Jeanne d’Albret, Nữ hoàng Navarre
Sinh 7 tháng 1, 1528
Saint-Germain-en-Laye, Yvelines
Mất 9 tháng 6, 1572
Paris, Pháp
Con cái Henri, Công tước Beaumont
Henri IV, Vua nước Pháp
Louis
Madeleine
Catherine
Cha mẹ Henri II của Navarre
Marguerite xứ Angouleme

Jeanne d’Albret (7 tháng 1, 15289 tháng 6, 1572) là Nữ hoàng Vương quốc Navarre từ năm 1555 đến 1572, là vợ của Antoine de Bourbon, Công tước Vendôme, và là mẹ của Henri IV, Vua nước Pháp.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Jeanne chào đời tại Saint-Germain-en-Laye, Yvelines năm 1528, là con gái Henri II của NavarreMarguerite xứ Angouleme. Marguerite là chị của François của Pháp, do đó Jeanne lớn lên trong hoàng cung Pháp. Năm 1541, ở tuổi 13, François gả cô cho William "Phú gia", Công tước Jülich-Cleves-Berg, nhưng cuộc hôn nhân vì chính trị này bị hủy bỏ bốn năm sau đó.

Sau khi François băng hà và Henri II lên kế vị, Jeanne kết hôn với Antoine de Bourbon, người sẽ thừa kế ngai vàng Pháp nếu dòng Valois bị tuyệt tự.

Không giống nước Pháp, chiếu theo Luật Salic chỉ có nam giới mới có quyền thừa kế ngôi vua, Vương quốc Navarre chấp nhận quyền thừa kế cho nữ giới. Năm 1555, Henri II của Navarre băng hà, Jeanne và chồng kế vị để trị vì Navarre.

Navarre là một vương quốc nhỏ nằm vắt ngang rặng Pyrenees. Năm 1512, phần đất phía nam của vương quốc bị sáp nhập vào Tây Ban Nha. Tuy nhiên, hoàng tộc cũng sở hữu những lãnh thổ khác bao gồm Béarns kế cận Navarre.[1] Giống mẫu thân Marguerite xứ Angouleme, người có chủ trương cải cách từ bên trong giáo hội, và có thiện cảm với những người Huguenot, Jeanne d’Albret dùng lãnh thổ của vương quốc làm nơi ẩn náu cho những người Huguenot đang bị bách hại.[2] Ngay trong năm đầu trị vì, Jeanne d’Albret triệu tập một hội nghị gồm các mục sư Huguenot đang bị bao vây, sau đó bà công bố đức tin Kháng Cách (theo thần học Calvin) là quốc giáo của vương quốc.

Sự tranh chấp quyền lực giữa phe Công giáo và phe Huguenot nhằm nắm quyền kiểm soát triều đình và cả nước Pháp bùng nổ thành Chiến tranh Tôn giáo Pháp năm 1562. Antoine de Bourbon chọn theo phe Công giáo, nhưng bị thiệt mạng do bị thương trong lúc ông tham gia cuộc bao vây Rouen. Con trai của Jeanne, Henri, nay trở thành nhân vật số một trong thứ tự kế thừa ngôi báu nước Pháp. Dù được rửa tội (báp têm) theo nghi thức Công giáo Rôma, Henri được mẹ giáo dưỡng trong đức tin Kháng Cách.

Năm 1567, chiến tranh tái phát, Jeanne phải đến tị nạn tại La Rochelle, thành lũy của người Kháng Cách. Ở đó, bà chỉ huy những cuộc đàm phán tìm kiếm hòa bình. Đến năm 1570, diễn ra việc dàn xếp cuộc hôn nhân giữa Henri và Marguerite nhà Valois. Jeanne từ trần tại Paris hai tháng trước khi cử hành hôn lễ. Nhiều lời đồn đại vào lúc ấy cho rằng Catherine de’ Medici, mẹ của cô dâu, đã đầu độc bà.

Phổ hệ[sửa | sửa mã nguồn]

 
 
 
 
Alain I của Albret
 
 
John III của Navarre
 
 
 
 
 
 
Francoise của Châtillon-Limoges
 
 
Henry II của Navarre
 
 
 
 
 
 
Gaston IV của Foix
 
 
Catherine của Foix
 
 
 
 
 
 
Eleanor của Navarre
 
Jeanne III của Navarre
 
 
 
 
 
John, bá tước Angoulême
 
 
Charles, bá tước Angoulême
 
 
 
 
 
 
Marguerite de Rohan
 
 
Marguerite của Angoulême
 
 
 
 
 
 
Philip II, công tước Savoy
 
 
Louise của Savoy
 
 
 
 
 
 
Margaret của Bourbon
 


Hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1541, Jeanne kết hôn với William, Công tước Jülich-Berg-Ravensberg-Kleve-Mark, nhưng cuộc hôn nhân này bị hủy bỏ năm 1545, họ không có con.

Ngày 20 tháng 10 năm 1548, Jeanne kết hôn với Antoine de Bourbon và có năm người con:

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Jeanne III của Navarre
Sinh: 7 tháng 1 1528 Mất: 9 tháng 6 1572
Tiền vị:
Henri II
Nữ hoàng Navarre
25 tháng 5, 15559 tháng 6 1572
Kế vị
Henri III
Công tước Foix
25 tháng 5, 15559 tháng 6 1572