John Cornforth

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
John Cornforth
Sinh 7 tháng 9, 1917 (97 tuổi)
Sydney, Úc
Quốc tịch Úc
Ngành Hóa học
Alma mater Đại học Sydney
St Catherine's College, Oxford
Nổi tiếng vì Hóa học lập thể của phản ứng xúc tác bởi enzym
Giải thưởng Huy chương Corday-Morgan (1949)
Giải Nobel Hóa học (1975)
Huy chương của Hội hoàng gia Luân Đôn (1976)
Huy chương Copley (1982)

Sir John Warcup Kappa Cornforth, sinh ngày 7.9.1917, là nhà hóa học người Úc, đã đoạt Giải Nobel Hóa học năm 1975 cho công trình nghiên cứu về hóa học lập thể của phản ứng xúc tác bởi enzym.

Cuộc đời và Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Cornforth sinh tại Sydney, học ở "Trường trung học nam sinh Sydney" và Đại học Sydney (từ năm 16 tuổi), nơi ông gặp Rita Harradence và sau này hai người kết hôn với nhau.

Ông học ngành Hóa hữu cơSchool of Chemistry của Đại học Sydney và tốt nghiệp hạng ưu năm 1937.[1] Sau đó ông được học bổng sang học ở St Catherine's College, Oxford Anh, và ông đã sang đây với Rita.

Ông hoàn toàn bị điếc ở tuổi 20 do bị chứng xơ cứng tai (otosclerosis) tăng không ngừng.[2]

Cornforth có ảnh hưởng sâu xa tới công trình nghiên cứu penicillin trong thời Thế chiến thứ hai. Ông đã giúp viết quyển "The Chemistry of Penicillin" (Princeton University Press, 1949). Năm 1975, ông chuyển tới làm việc ở Đại học Sussex với cương vị giáo sư nghiên cứu của Hội hoàng gia Luân Đôn và tiếp tục nghiên cứu hóa học ở đây.

Giải thưởng và Vinh dự[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]