John Donne

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
John Donne
John Donne
Sinh 1572
London, Anh
Mất 31 tháng 3, 1631
Công việc Nhà thơ
Quốc gia Anh
Thể loại Trào phúng, Thơ tình yêu, Bi thương
Chủ đề Tình yêu, Tình dục, Tôn giáo, Cái chết
Trào lưu Nhà thơ Siêu hình


John Donne (22 tháng 1 năm 1572 – 31 tháng 3 năm 1631) – nhà thơ Anh theo trường phái siêu hình, tác giả của thơ sonnet, thơ tình, bi ca và những lời thuyết giáo nổi tiếng, là một trong những nhà thơ lớn của Anh thế kỉ 17.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

John Donne thời trẻ

John Donne sinh ở Bread Street, London trong một gia đình theo Công giáo. Bố là một thương gia, mất khi John Donne mới lên 4 tuổi, mẹ là con gái của nhà thơ, nhà viết kịch Heywood. Trong số những người đời trước có nhà nhân văn Thomas Moore, tác giả của Utopia nổi tiếng. Năm 20 tuổi John Donne vào học ở Hart Hall (ngày nay là Hertford College) thuộc Đại học Oxford. Sau khi học tại đây ba năm, ông xin vào và học tiếp tại Đại học Cambridge trong ba năm.[2] Tuy nhiên tại cả hai nơi, Donne đều không được nhận bằng do ông là tín hữu Công giáo và từ chối tuyên xưng Lời thề Quyền tối thượng (Oath of Supremacy) của Anh giáo được yêu cầu để tốt nghiệp.[3]

Sau khi nghỉ học John Donne đi du lịch sang ÝTây Ban Nha. Năm 1891 vào học Lincoln’s Inn trong 3 năm. Những năm 1596-1597 theo ngài bá tước Essex tham gia vào trận đánh CadizTây Ban Nha, sau đó làm thư ký cho ngài Thomas Egerton.

John Donne yêu cô Anne More, cháu của ngài Thomas Egerton và bí mật làm đám cưới, khi ngài Egerton biết chuyện đã đuổi việc và bắt John Donne vào tù.

Sau khi mãn hạn tù John Donne cùng Anne More về thăm quê ngoại và viết tác phẩm Ignatius his Conclave mong cải thiện điều kiện khó khăn về tài chính. Hai lần (năm 1601 và năm 1614) John Donne được bầu vào Quốc hội Anh, trở thành ông nghị giàu có và rất đông con.

Năm 1617 Anne More mất, kể từ đây sáng tác của John Donne đượm vẻ u ám và thần bí hơn trước.

John Donne mất năm 1631, trước khi chết ông còn đọc lời thuyết giáo để dùng trong lễ tang và sai người nhà vẽ chân dung đặt vào áo quan. Sau khi mất, gần 200 năm John Donne bị người đời quên lãng, chỉ đến đầu thế kỉ XX nhà thơ William Butler Yeats mới tìm thấy bậc tiền bối của mình. Thế kỉ XX John Donne là nhà thơ cổ điển thời thượng bậc nhất ở nước Anh.

Câu thuyết giáo nổi tiếng: "Không có một người nào là một hòn đảo, tự bản thân mình là một thể hoàn chỉnh hết thảy, mỗi người là một mảnh của đại lục, một phần của đất liền và nếu sóng cuốn xuống biển một mỏm đá ven bờ thì Châu Âu sẽ bé đi cũng như là nó cuốn mất một mũi đất hay phá đổ nhà bạn anh, hay nhà anh. Cái chết của bất kì ai cũng làm cho chính tôi bé đi vì tôi là một thể thống nhất với toàn nhân loại do đó anh đừng bao giờ hỏi chuông nguyện hồn ai, chuông nguyện hồn chính anh đó". Những lời này của John Donne được nhà văn Ernest Hemingway dùng làm đề từ của cuốn tiểu thuyết nổi tiếng "Chuông nguyện hồn ai".

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Thơ:

  • He had done most of his poems in 1633
  • Poems on Several Occasions (1719)
  • Love Poems (1905)
  • John Donne: Divine Poems, Sermons, Devotions and Prayers (1990)
  • The Complete English Poems (1991)
  • John Donne’s Poetry (1991)
  • John Donne: The Major Works (2000)
  • The Complete Poetry and Selected Prose of John Donne (2001)

Văn xuôi:

  • Six Sermons (1634)
  • Fifty Sermons (1649)
  • Paradoxes, Problemes, Essayes, Characters (1652)
  • Essayes in Divinity (1651)
  • Sermons Never Before Published (1661)
  • John Donne’s 1622 Gunpowder Plot Sermon (1996)
  • Devotions Upon Emergent Occasions and Death’s Duel (1999)

Một bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

The Good-Morrow
 
I wonder, by my troth, what thou and I
Did, till we loved? were we not weaned till then,
But sucked on country pleasures, childishly?
Or snorted we in the seven sleepers' den?
'Twas so; but this, all pleasures fancies be.
If ever any beauty I did see,
Which I desired, and got, 'twas but a dream of thee.
 
And now good morrow to our waking souls,
Which watch not one another out of fear;
For love all love of other sights controls,
And makes one little room an everywhere.
Let sea discovers to new worlds have gone,
Let maps to others, worlds on worlds have shown:
Let us possess one world; each hath one, and is one.
 
My face in thine eye, thine in mine appears,
And true plain hearts do in the faces rest;
Where can we find two better hemishperes,
Without sharp North, without declining West?
Whatever dies was not mixed equally;
If our two loves be one, or thou and I
Love so alike that none do slacken, none can die.
Buổi sáng
 
Trước khi mình yêu, có phải em và anh
Có phải chưa bao giờ chúng mình xa nhau cả?
Và có phải mình đã từng đùa vui trên hoa cỏ?
Có phải hai đứa đã từng ngủ ở trong hang?
Nhưng tất cả những điều này quả đến lạ lùng.
Hễ mắt anh nhìn thấy vẻ đẹp nào như thế
Là lại khát khao, lại mơ ước về em.
 
Và giờ đây mỗi buổi sáng hai chúng mình
Đã không còn nhìn thấy nhau, trong nỗi sợ
Tình làm cho cả thế gian trở thành xa lạ
Căn phòng nhỏ này trở thành rộng mênh mông.
Thì cứ mặc cho những nhà thám hiểm sẽ đi tìm
Và cứ để cho họ sẽ mở ra những bến bờ xa lạ
Nhưng chỉ một thế giới này của anh và em.
 
Gương mặt anh trong mắt em và em trong anh
Hai con tim chân thành cùng chung nhịp đập
Còn ở đâu tìm ra hai nửa bán cầu
Mà đã lặng phía Tây, đã yên phía Bắc
Sẽ mất đi những thứ vô tình trộn lẫn vào nhau
Nhưng nếu như hai tình yêu hòa chung làm một
Thì nghĩa là chúng mình còn mãi đến nghìn sau.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Donne, John. Columbia Encyclopedia, Sixth Edition. Accessed 2007-2-19.
  2. ^ Bản mẫu:Acad
  3. ^ Walton, Izaak (1999). Devotions Upon Emergent Occasions and Death's Duel. New York: Random House. tr. 180. ISBN 0375705481. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]