John Hennigan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
John Hennigan
John Morrison Rosemont IL 031108.jpg
Tóm tắt
Tên trên võ đài John Morrisson

Johnny Blaze Johnny Spade Johnny Superstar Johnny Icon

Johnny Nitro
Chiều cao thực tế 6 ft 0,5 in (184 cm)
Chiều cao quảng cáo 6 ft (183 cm)
Cân nặng quảng cáo 219 lbs (99 kg) = thực tế
Sinh 3 tháng 10 năm 1979
Los Angeles, California, Mỹ
Quảng cáo tại Los Angeles, California, USA
Huấn luyện bởi Tough Enough III trainers

OVW staff

Nick Dinsmore
Gia nhập 27/1/2003

John Randal Hennigan sinh ngày 3 tháng 10 năm 1979 tại Los Angeles, California, Mỹ. Là đô vật được biết dưới tên John Morrisson. Trước đó, anh còn lấy tên Johnny Nitro, hiện anh đang thi đấu cho SmackDown! thuộc WWE

Trước khi thi đấu cho WWE, Hennigan tham gia Tough Enough III, một cuộc thi trên truyền hình mà có giải thưởng là người chiến thắng sẽ được kí hợp đồng với WWE. anh là một trong những người đoạt giải trong cuộc thi này và được đào tạo tại Ohio Valley Wrestling (OVW). Khi còn ở OVW, anh thi đấu cùng một nhóm với Joey Mercury, khi họ giành OVW Southern Tag Team Championship. Cũng trong thời gian này, anh và Mercury, Melina cùng với người quản lý của họ, được biết đến như là những đô vật thi đấu ổn định.

Sau khi ký hợp đồng với WWE, nhóm đã được gọi vào SmackDown!,họ ra mắt khán giả lần đầu tiên vào Tháng 4 năm 2005, Hennigan và Mercury giành chiến thắng trong trận tranh đai WWE Tag Team Championship. Sau khi Mercury rời khỏi nhóm vào tháng 5 năm 2006. Hennigan và Melina đã rời khỏi SmackDown! chuyển sang thi đấu cho RAW. Trong suốt thời gian này, Hennigan thi đấu đơn và giành đượcWWE Intercontinental Championship hai lần. Tháng 6 năm 2007, Hennigan chuyển sang thi đấu choECW. Trong thời gian này, anh giành được ECW World Championship 1 lần, đây là danh hiệu world heavyweight championship đầu tiên của anh. Vào cuối năm 2007, Hennigan bắt cặp vớiThe Miz, cặp đôi này đã giành được các đai WWE Tag Team Championship và World Tag Team Championship trong những dịp riêng biệt. Nhóm tan rã vào tháng 4 năm 2009, Morrison trở lại SmackDown.

trở lại WWE (2009 tới nay)[sửa | sửa mã nguồn]

trong trận đầu tiên sau khi trở lại vào ngày 17 tháng 4, anh đánh bại R-Truth. Ngày 1 tháng 5, Morrison đánh bại Shelton Benjamin, và sau đó tham gia vào một hậu chiến đấu với Chris Jericho, do Jericho đã tát anh. Tại Judgment Day, Morrison đánh bại Benjamin trong một trận rematch. Ngày 31 Tháng 7, Morrison giành được đai WWE ChampionshipWorld Heavyweight Championship lần đầu tiên sau trận đấu với Jeff Hardy, nhưng đã không thể giữ được đai. Ngày 04 tháng 9, Morrison đánh bạiRey Mysterio và đã lần thứ 31 giành được đai Intercontinental Championship. Tại PPV TLC: Tables, Ladders, and chairs, Morrison để mất đai Intercontinental Championship vào tay Drew McIntyre. Họ đã có các trận đấu lại trong các tháng tiếp theo cuộc quyết đấu của họ đã kết thúc một thời gian ngắn sau đó sau trận No Disqualification Match.tại Royal Rumble 2010 john morrison xuất phát ở vị trí số 11 nhưng đã thi đấu không thành công, khi anh không loại được 1 người nào và sau đó đã bị Shawn Michaels(xuất phát ở vị trí 18)loại. John morrison là 1 trong 6 người tham gia trận Elimination Chamber qualifying match với R-Truth, Chris Jericho, CM Punk, Rey Mysterio và đương kim vô địch đai heavyweight championship Undertaker,anh là người thứ 5 ra sân và đã thi đấu khá hay khi áp đảo được cả Rey Mysteriovà Chris Jericho,và sau đó anh đã loại được Rey, nhưng Undertaker,người ra sân cuối cùng, đã tạo ra ưu thế áp đảo hoàn toàn, trong lúc anh nhảy lên dây và tung đòn về phía Undertaker,anh đã để cho Undertaker chụp đc, anh đã dính 1 đòn Choke Slam của Undertaker và bị loại. Sau đó, anh cặp với đồng đội mới là R-Truth tham gia trận No.1 Contender for Unified WWE Tag Team Championship, đấu với Cryme TymeThe Hart Dynasty, và nhóm anh đã thắng. Anh và R-Truth sẽ đấu với WWE Unified Tag Team Champion The ShowMiz tại Wrestlemania XXVI nhưng đã thua. ngày 26 tháng 4,anh được chuyển sang thi đấu cho RAW và thua trận đầu tiên tại RAW trc Jack Swagger,trong trận cuối cùng ở Smack Down anh đã để thua Cody Rhodes.ngày 1 tháng 6,anh được thông báo là sẽ hướng dẫn Eli Cottonwood thi đấu tại season 2 của WWE NXT, tuy nhiên, eli đã bị loại vào ngày 27 tháng 7.

tại kì ppv SummerSlam,anh đã tham gia vào team SuperStar RAW để chống lại the Nexus, và dù có chút bất đồng với các đồng đội khác nhưng rốt cuộc anh vẫn tiếp tục tham gia và đã góp công trong chiến thắng the Nexus.Sau đó, cùng với R-Truth, anh đã thắng rất nhiều trân đấu đồng đội. Trở lại với sự nghiệp đánh đơn, anh đã nhiều lần bảo vệ Santino trước Sheamus, mối thù của anh và Celtic warrior bắt đầu. Trong các trận đấu với Sheamus thì Morrison đều dành chiến thắng, đáng chú ý là trận đấu Ladder Match (trận đấu thang) tại TLC, sau trận đấu đó John trở thành No.1 Contender cho chiếc đai WWE. Hiện giờ anh và Sheamus đang có tranh chấp vì anh đã giúp Santino thắng Sheamus.Anh đã có có những pha đẹp mắt trong Royal Rumble. Khiến cho khán giả phải ồ ạt vỗ tay. Nhưng đáng tiếc là mọi nỗ lực của anh đều thua tại Royal Rumble cũng như giành chức vô địch WWE Championship Vào tận đấu NO.1 contender WWE champion anh đã thua R-Truth nhưng vài ngày sau R-Truth đã cho anh thêm cơ hội đấu với anh để thành No.2 Contender với John Cena. Anh thắng nhưng sau đó tại Extreme rules Triple Threat Cage match anh đã bị R-truth đánh lén và để mất đai WWE Champion khiến anh bị chấn thương nặng.Vào vài ngày trước SummerSlam Triple H LÀ COO Chaiman thay cho Vince McMacon 1 thời gian đã sắp xếp cho anh có kẻ thù là R-Truth. Tại SummerSlam Henigan cùng Rey Mysterio và Kofi Kingston đã đánh bại R-Truh, Alberto Del Rio và The Miz.Tại every Countout match, anh đã thắng R-truth

Thành tích và các danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ohio Valley Wrestling
  • OVW Southern Tag Team Championship (81 lần) - với Joey Mercury
  • Đô vật tiến bộ nhất của năm (2009)
  • đội của năm(2005) với Joey Mercury

PWI xếp anh đứng # 1 trong 500 đô vật hay nhất của năm(2011) World Wrestling Entertainment

Wrestling Observer Newsletter

  • Tag Team of the Year (2008) với The Miz

Đòn kết liễu[sửa | sửa mã nguồn]

  • The moonlight drive (Corkscrew neckbreaker)
  • Spear
  • Attitude adjustment
  • Killswitch
  • Sweet chin music
  • Batista bomb
  • Sitout hangman's neckbreaker
  • Standing shooting star press
  • Superkick
  • Starship pain
morrison tung ra đòn the moonlight drive

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

wikipedia.org