Juneau (lớp tàu tuần dương)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi: Lớp tàu tuần dương Juneau
Xưởng đóng tàu: Federal Shipbuilding and Drydock Company, Kearny, New Jersey
Bên sử dụng: US flag 48 stars.svg Hải quân Hoa Kỳ
Lớp trước: lớp Fargo
Lớp sau: lớp Worcester
Thời gian đóng: 1944-1946
Dự tính: 3
Hoàn tất: 3
Nghỉ hưu: 3
Giữ lại: 0
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Tàu tuần dương hạng nhẹ
Trọng tải choán nước: 6.500 tấn Anh (6.600 t) (tiêu chuẩn)
8.450 tấn Anh (8.590 t) (đầy tải)
Độ dài: 541 ft 0 in (164,90 m)
Sườn ngang: 52 ft 10 in (16,10 m)
Mớn nước: 20 ft 6 in (6,25 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số
4 × nồi hơi, áp lực 665 psi (4.590 kPa)
2 × trục
công suất 75.000 hp (56.000 kW)
Tốc độ: 32,7 hải lý một giờ (60,6 km/h; 37,6 mph) (thiết kế)
Tầm xa: 6.440 nmi (11.930 km) ở tốc độ 20 hải lý một giờ (37 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
47 sĩ quan,
695 thủy thủ
Vũ trang:

12 × pháo 5 in (130 mm)/38 caliber đa dụng (6×2);
32 × pháo Bofors 40 mm/56 caliber phòng không (6×4,4×2);

16 × pháo Oerlikon 20 mm/70 caliber phòng không (8×2)
Bọc giáp:

đai giáp: 1,5–3,5 in (38–89 mm)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ];
sàn tàu: 1,25 in (32 mm);

tháp pháo: 1,25 in (32 mm);

Lớp tàu tuần dương Juneau là những tàu tuần dương hạng nhẹ của Hải quân Hoa Kỳ là một phiên bản được cải tiến dựa trên lớp Atlanta. Những con tàu này được trang bị dàn pháo chính như trên chiếc Oakland nhưng với dàn hỏa lực phòng không, nhưng các đường ray thả mìn sâu chống tàu ngầm và các ống phóng ngư lôi được tháo dỡ, và cấu trúc thượng tầng được tái cấu trúc nhằm giảm trọng lượng và tăng độ ổn định. Ba chiếc đã được đặt hàng và chế tạo, tất cả đều hoàn tất không lâu sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, và chỉ có chiếc dẫn đầu Juneau tham gia hoạt động trong Chiến tranh Triều Tiên.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Những tàu tuần dương lớp Atlanta đã tăng thêm thành phần thủy thủ đoàn và vũ khí trong chiến tranh; và việc bị mất hai chiếc AtlantaJuneau (CL-52) bộc lộ những điểm yếu về sự ổn định và độ kín nước của lườn tàu, vốn được sửa chữa trong việc tái thiết kế lại vào năm 1942, đồng thời với việc thiết kế một phiên bản cải tiến của lớp Clevelandlớp Fargo. Các con tàu này có dàn pháo chính giống như trên chiếc Oakland, nhưng cầu tàu và cấu trúc thượng tầng được thiết kế lại để loại bỏ trọng lượng và tăng tầm nhìn; trọng lượng giảm bớt cho phép tăng cường vũ khí phòng không với độ ổn định tốt hơn. Độ kín nước của lườn tàu được cải thiện bằng cách loại bỏ các cửa trên các hầm tàu bên dưới giữa các vách ngăn. Ngoài ra vũ khí chống tàu ngầm và vũ khí ngư lôi cũng được tháo dỡ.[1]

Đặc tính[sửa | sửa mã nguồn]

Dàn pháo chính của lớp Juneau bao gồm sáu tháp pháo 5 in (130 mm)/38 caliber đa dụng nòng đôi.[2] Dàn hỏa lực phòng không hạng hai bao gồm 32 khẩu pháo Bofors 40 mm/56 caliber và 16 khẩu pháo Oerlikon 20 mm/70 caliber, tất cả đều bố trí trên các bệ nòng đôi và bắn đạn nổ mạnh (HE).[3] Sau chiến tranh, có kế hoạch thay thế một số khẩu Bofors 40 mm trên các con tàu bằng kiểu pháo 3 in (76 mm)/50 caliber, nhưng chỉ có Juneau được thay thế.[4]

Lớp tàu này được vận hành tương tự như với lớp Atlanta, với bốn nồi hơi áp lực 665 psi (4.590 kPa) nối với hai turbine hơi nước hộp số, tạo ra công suất 75.000 hp (56.000 kW) cho phép các con tàu duy trì được tốc độ tối đa 33,6 hải lý một giờ (62,2 km/h; 38,7 mph). Khi chạy thử máy Juneau đạt được tốc độ 32,48 hải lý một giờ (60 km/h) với công suất 78.749 hp (58.723 kW). Các con tàu có vỏ giáp tương đương với lớp Atlanta: đai giáp bên dày tối đa 3,5 in (89 mm), vỏ thép bảo vệ cho cầu tàu chỉ huy và mặt tháp pháo 5 inch chỉ dày 1,25 in (32 mm).[3] Các con tàu nguyên được thiết kế với 47 sĩ quan và 695 thủy thủ.[5]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Ba chiếc thuộc lớp Juneau đã được chế tạo, tất cả đều được đóng tại xưởng tàu của hãng Federal Shipbuilding and Drydock CompanyKearny, New Jersey; không có chiếc kịp hoàn tất để tham gia Chiến tranh Thế giới thứ hai. Chiếc Juneau dẫn đầu của lớp, vốn được đặt tên theo chiếc Juneau (CL-52) bị mất trong chiến tranh, được hạ thủy vào ngày 15 tháng 7 năm 1945 và được đưa ra hoạt động vào ngày 15 tháng 2 năm 1946; Spokane được hạ thủy vào ngày 22 tháng 9 năm 1945và được đưa ra hoạt động vào ngày 17 tháng 5 năm 1946; và Fresno được hạ thủy vào ngày 5 tháng 3 năm 1946 và được đưa ra hoạt động vào ngày 27 tháng 11 năm 1946.[6]

SpokaneFresno được cho ngừng hoạt động tương ứng vào năm 19491950, trước khi Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ; riêng Juneau lúc này được xếp lớp lại như một tàu tuần dương phòng không với ký hiệu lườn CLAA-119, đã tham gia vào cuộc xung đột. Vào ngày 2 tháng 7 năm 1950, cùng với các tàu chiếc của Hải quân Hoàng gia Anh HMS JamaicaHMS Black Swan, Juneau bị bốn xuồng phóng lôi và hai tàu pháo của Hải quân Bắc Triều Tiên tấn công; hỏa lực phối hợp của lực lượng Anh-Mỹ đã đẩy lùi cuộc tấn công, bắn chìm ba xuồng phóng lôi và cả hai tàu pháo trong trận Chumonchin Chan.[7] Không lâu sau chiến tranh, Juneau được cho ngừng hoạt động vào năm 1955. Cả ba chiếc từng được cân nhắc để tái trang bị như những tàu tuần dương tên lửa điều khiển hoặc chống tàu ngầm, nhưng cuối cùng chúng đều bị bán để tháo dỡ trong những năm 1960.[8]

Những chiếc trong lớp[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu Đặt lườn Hạ thủy Hoạt động Số phận
Juneau (CL-119) 15 tháng 9 năm 1944 15 tháng 7 năm 1945 15 tháng 2 năm 1946 Ngừng hoạt động 23 tháng 7 năm 1955; bán để tháo dỡ, 1962
Spokane (CL-120) 15 tháng 11 năm 1944 22 tháng 9 năm 1945 17 tháng 5 năm 1946 Ngừng hoạt động 27 tháng 2 năm 1950; bán để tháo dỡ 17 tháng 5 năm 1973
Fresno (CL-121) 12 tháng 2 năm 1945 5 tháng 3 năm 1946 27 tháng 11 năm 1946 Ngừng hoạt động 17 tháng 5 năm 1949; bán để tháo dỡ, 1966


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Friedman 1984, tr. 240—241
  2. ^ Friedman 1984, tr. 231—233
  3. ^ a ă Friedman 1984, tr. 236, 238—239
  4. ^ Friedman 1984, tr. 242
  5. ^ Friedman 1984, tr. 238
  6. ^ Friedman 1984, tr. 452
  7. ^ “Naval Battles of the Korean War”. United States Navy. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2011. 
  8. ^ “Juneau CL-119”. Department of the Navy. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2011.