Kẻ hủy diệt (1984)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Kẻ hủy diệt)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kẻ hủy diệt

Áp phích của phim Kẻ huỷ diệt (1984)
Thông tin phim
Đạo diễn James Cameron
Sản xuất John Daly
Derek Gibson
Gale Anne Hurd
Tác giả James Cameron
Gale Anne Hurd
William Wisher Jr.
Diễn viên Arnold Schwarzenegger
Linda Hamilton
Michael Biehn
Âm nhạc Brad Fiedel
Quay phim Adam Greenberg
Dựng phim Mark Goldblatt
Hãng sản xuất Hemdale Film Corporation
Phát hành Orion Pictures/ Hemdale Film Corporation (1984-1997)
Metro-Goldwyn-Mayer(1998-nay)
Công chiếu 26/10/1984
Độ dài 108 phút.
Quốc gia Mỹ
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Tiếng Tây Ban Nha
Kinh phí $6,400,000
Doanh thu Bắc Mỹ
$38,371,200
Toàn cầu
$78,371,200

Kẻ hủy diệt (tiếng Anh: The Terminator) là một bộ phim điện ảnh ra mắt khán giả vào năm 1984 thuộc thể loại hành động/khoa học viễn tưởng của đạo diễn James Cameron, đồng tác giả là Cameron và William Wisher Jr với các diễn viên Arnold Schwarzenegger, Linda HamiltonMichael Biehn. Bộ phim được sản xuất bởi Hemdale Film Corporation và được phân phối bởi Orion Pictures, và quay tại Los Angeles.

Schwarzenegger thủ vai Kẻ hủy diệt/Người máy hủy diệt, một nhân vật danh nghĩa, một sát thủ người máy sinh học dường như không thể ngăn chặn, được siêu máy tính điện toántrí thông minh nhân tạo gửi về năm 1984 từ năm 2029 nhằm để giết Sarah Connor, vai diễn của Linda Hamilton. Michael Biehn, thủ vai Kyle Reese, một người lính của Phe kháng chiến đi ngược thời gian để bảo vệ Sarah.

Mặc dù không được dự kiến là một sản phẩm thương mại quan trọng thành công, Kẻ hủy diệt đã đứng đầu phòng vé của Mỹ trong hai tuần và đã giúp khởi động sự nghiệp điện ảnh của James Cameron và Arnold Schwarzenegger. Trong năm 2008, nó đã được lựa chọn bởi Thư viện Quốc hội để bảo quản tại Viện lưu trữ phim quốc gia Mỹ.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2029, một trí thông minh nhân tạo đang thống trị thế giới và bắt đầu tận diệt loài người. Hai người của kỉ nguyên này đã du hành vược thời gian về Los Angeles vào ngày 12 tháng 5 năm 1984: một là Kẻ hủy diệt (Arnold Schwarzenegger)-người máy sát thủ được lập trình để tiêu diệt Sarah Connor (Linda Hamilton). Người kia là Kyle Reese (Michael Biehn), một người lính thuộc Quân kháng chiến của con người gửi đến để bảo vệ Sarah. Sau khi giết chết hai cùng tên Sarah Connors khác được liệt kê trong danh bạ điện thoại, Kẻ hủy diệt lần theo mục tiêu của hắn đến một hộp đêm. Kyle cứu Sarah khỏi sự tấn công của Kẻ hủy diệt và cả hai trốn thoát.

Kyle giải thích rằng trong tương lai gần, một mạng lưới tình báo nhân tạo gọi là Skynet sẽ đạt được trình độ tự nhận thức, nắm giữ toàn bộ hệ thống phần cứng quân đội và bắt đầu cuộc chiến tranh hạt nhân chống lại loài người. Đứa con chưa sinh của Sarah-John sẽ tập hợp những người sống sót và dẫn đầu một phong trào kháng chiến chống lại Skynet và quân đội người máy của nó. Trước viễn cảnh Quân kháng chiến đang trên đà thắng lợi, Skynet đã gửi một Kẻ hủy diệt quay ngược thời gian để giết Sarah trước khi John có thể được sinh ra, như là một nỗ lực cuối để ngăn chặn sự hình thành Quân kháng chiến. Kẻ hủy diệt là một cỗ máy giết người hoàn hảo và vô cảm với một lớp mô sống phủ trên khung xương kim loại khiến cho nó giống như một con người.

Kyle và Sarah là một lần nữa bị tấn công bởi Kẻ hủy diệt, dẫn đến một cuộc rượt đuổi và anh bị bắt bởi lực lượng cảnh sát, còn Kẻ hủy diệt trốn thoát. Tại đồn cảnh sát West Highland, trung úy Ed Traxler (Paul Winfield) và thanh tra Hal Vukovich (Lance Henriksen) thông tin với Sarah rằng Reese đang được thẩm vấn bởi Tiến sĩ tâm lý Silberman (Earl Boen), và được cho là có dấu hiệu tâm thần. Dựa trên lời giải thích của Reese, Silberman đưa ra kết luận câu chuyện của Reese là một sự hoang tưởng có hệ thống. Tuy nhiên, Kẻ hủy diệt tấn công đồn cảnh sát và giết hơn 17 sĩ quan cảnh sát trong nỗ lực để xác định vị trí của Sarah nhưng cô và Kyle trốn thoát và tìm nơi ẩn náu ở một nhà trọ. Kyle sau đó thú nhận rằng anh đã yêu Sarah từ lâu, khi được John, con trai của cô giao cho bức ảnh chụp của cô. Sarah đón nhận tình cảm của Kyle và họ đã có quan hệ tình dục.

Sau đêm đó, Kẻ hủy diệt tìm ra chỗ nấp của cả hai và đuổi theo họ trên xe motor và làm Reese bị thương. Khi cuộc rượt đuổi tiếp tục thì Kẻ hủy diệt bị rơi vào một vụ nổ xe chở xăng. Mặc cho lớp mô sống bên ngoài bị thiêu rụi và chỉ còn lại bộ xương kim loại, Kẻ hủy diệt tiếp tục đuổi theo Sarah và Kyle đến một nhà máy gần đó. Kyle liền nhét quả bom ống cuối cùng vào bụng của nó, thổi tung cái chân và một cánh tay, nhưng chính Kyle lại chết. Vẫn còn hoạt động, Kẻ hủy diệt tiếp tục đeo bám Sarah bằng cánh tay còn lại cho đến khi cô nghiền nát Kẻ hủy diệt dưới thiết bị thủy lực thì hắn mới hoàn toàn ngưng hoạt động.

Một thời gian sau, Sarah mang thai khi đang du lịch Mexico. Trên đường đi, cô ghi âm lại những gì định kể cho đứa con chưa sinh và tự hỏi có nên nói Kyle là cha của cậu bé. Khi Sarah đang dừng xe đổ xăng thì một cậu bé Mexico bất ngờ chụp hình cô, tấm hình mà John sẽ đưa cho Reese trong tương lai. Sarah rời khỏi trạm xăng và tiếp tục cuộc hành trình khi đằng xa một cơn bão đang đến…

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Diễn viên phụ bao gồm Bess Motta vai Ginger Ventura, Dick Miller là nhân viên cửa hàng súng, Shawn Schepps là Nancy, Bruce M. Kerner là trung sĩ bàn, bạn của Arnold và chuyên gia thể hình chuyên nghiệp Franco Columbu vai Kẻ hủy diệt của năm 2029, và Bill Paxton]], Brad Rearden, và Brian Thompson là các dân đua xe phải đối mặt với Kẻ hủy diệt ở đầu phim.

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Rome, trong khi phát hành Piranha II: The Spawning thì James Cameron mắc bệnh và có một giấc mơ về một mẫu kim loại kéo thân mình khỏi vụ nổ và cầm một cây dao nhà bếp [2]. Khi Cameron trở về Pomona, California, ông vẫn ở nhà của Randall Frakes, nơi ông đã viết một bản dự thảo cho Kẻ hủy diệt [3]. Cameron sau đó tuyên bố rằng ảnh hưởng đến ông trong khi viết kịch bản là từ nội dung của các bộ phim khoa học viễn tưởng những năm 1950, các tập của The Outer Limits cũng như các bộ phim đương đại bao gồm The DriverThe Road Warrior [4][5]. Để tọa ra dự thảo kịch bản thì Cameron đã hợp tác người bạn của ông là Bill Wisher, người có một cách tiếp cận tương tự như lối kể chuyện. Cameron và Wisher viết những cảnh đầu tiên liên quan đến Sarah Connor và những cảnh sở cảnh sát. Vì Wisher sống xa Cameron, cả hai truyền ý tưởng kịch bản cho nhau bằng cách gửi băng ghi âm băng về những gì họ đã viết bằng điện thoại. Người đại diện của Cameron ghét ý tưởng Kẻ hủy diệt và bảo ông làm việc về một cái gì khác. Sau này, Cameron sa thải người đại diện đó [6]. Các phác thảo ban đầu của kịch bản liên quan đến hai Kẻ hủy diệt gửi về quá khứ. Cái đầu tiên là một Kẻ hủy diệt tương tự như trong phim, cái thứ hai là một người máy kim loại lỏng không thể bị phá hủy với vũ khí thông thường [7]. Cameron không thể nghĩ ra một cách tốt để mô tả người máy này, nói rằng ông "đã nhìn thấy những điều trong đầu mình vốn có thể không thực hiện được với công nghệ hiện có " [7][8]. Các câu chuyện về người máy trong phim do đó đã được giảm xuống thành ý tưởng về một người máy duy nhất [8]. Kẻ hủy diệt kim loại lỏng sẽ được dựng lại với nhân vật T-1000 trong phần tiếp theo năm 1991, Kẻ hủy diệt 2: Ngày phán xét

Gale Anne Hurd, người đã làm việc tại New World Pictures là như trợ lý của Roger Corman "bày tỏ quan tâm về dự án phim [6]. Cameron đã bán bản quyền của Kẻ hủy diệt cho Hurd với giá một đôla với lời hứa rằng cô sẽ sản xuất ra phim chỉ khi Cameron là đạo diễn. Là một nhà sản xuất, Hurd đã đề nghị chỉnh sửa kịch bản và một cảnh giới thiệu thành phần làm phim. Cameron đã nói rằng Hurd "đã không có văn bản thực tế nào cả" [9]. Cameron và Hurd có người bạn đã từng làm việc với Roger Corman trước đây và những người đang làm việc ở Orion Pictures. Orion đã đồng ý để phân phối bộ phim nếu Cameron có thể nhận được sự ủng hộ tài chính ở nơi khác. Kịch bản đã được chọn bởi John DalyHemdale Pictures. Cameron muốn gây ấn tượng cho Daly để hoàn tất các thỏa thuận và do đó ông đã mời người bạn là Lance Henriksen xuất hiện tại buổi gặp gỡ với cách ăn mặc và hành động như Kẻ hủy diệt. Henriksen xuất hiện tại văn phòng bằng cách đá cửa, mặc một chiếc áo da và có bụi vàng bao phủ trên răng và một vết cắt giả trên khuôn mặt của mình và sau đó ngồi trên ghế. Cameron đã đến ngay sau đó và giảm sự căng thẳng của nhân viên khỏi các hành động Henriksen. Daly do đó đã rất ấn tượng bởi kịch bản và niềm đam mê của Cameron cho bộ phim [10]. Vào cuối năm 1982 Daly đã đồng ý trở lại bộ phim với sự giúp đỡ từ HBO và Orion [10][11]. Ngân sách của phim lúc đầu là 4.000.000 $ và sau đó đã nâng lên đến 6.500.000 $ [12] .

Trước sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

"Casting Arnold Schwarzenegger as our Terminator, on the other hand, shouldn't have worked. The guy is supposed to be an infiltration unit, and there's no way you wouldn't spot a Terminator in a crowd instantly if they all looked like Arnold. It made no sense whatsoever. But the beauty of movies is that they don't have to be logical. They just have to have plausibility. If there's a visceral, cinematic thing happening that the audience likes, they don't care if it goes against what's likely."[13]

—James Cameron on casting Schwarzenegger.

Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của Cameron là tìm một người nào đó để đóng Kyle Reese. Orion muốn có một ngôi sao nổi tiếng mới xuất hiện ở Hoa Kỳ nhưng cũng sẽ có yếu tố nước ngoài. Người đồng sáng lập của Orion là Mike Medavoy đã gặp Arnold Schwarzenegger và gửi cho người đại diện của ông kịch bản của Kẻ hủy diệt [11]. Cameron không biết có nên cho Schwarzenegger đóng Reese vì ông cảm thấy ông sẽ cần một ai đó to lớn hơn để đóng Kẻ hủy diệt. Studio đã đề nghị O. J. Simpson cho vai trò của Kẻ hủy diệt, nhưng Cameron nhận thấy rằng Simpson quá hiền lành để đóng vai một kẻ giết người [14][15]. Tuy vậy ông vẫn đồng ý gặp Schwarzenegger để bàn về bộ phim và được Schwarzenegger nói về việc vai phản diện nên được đóng như thế nào và Cameron bắt đầu vẽ khuôn mặt của ông trên giấy và hỏi Schwarzenegger ngừng nói chuyện và đứng yên một chút [15]. Sau cuộc họp đó, Cameron trở về Daly nói rằng Schwarzenegger sẽ không đóng vai Reese nhưng "Anh ta nhất định sẽ tạo ra được Kẻ hủy diệt." [16] Schwarzenegger đã không bị kích thích bởi bộ phim vì trong một cuộc phỏng vấn về các thiết lập của Conan the Barbarian, một người phỏng vấn hỏi ông về một đôi giày ông đang mang (được dùng trong Kẻ hủy diệt) thì Schwarzenegger trả lời: "À đó chỉ là một số bộ phim vớ vẩn mà tôi đang làm, mất khoảng một vài tuần." [17] Để chuẩn bị cho vai diễn này, Schwarzenegger đã dành ba tháng đào tạo với các vũ khí để có thể sử dụng và cảm thấy thoải mái về chúng [16]

Đối với vai trò của Reese, các ý kiến khác nhau đã được tạo cho vai này gồm có nhạc sĩ rock Sting [18]. Cameron đã chọn Michael Biehn cho vai diễn này. Biehn ban đầu hoài nghi, cảm thấy rằng bộ phim là ngớ ngẩn. Sau cuộc họp với Cameron, Biehn nói "cảm xúc của anh về dự án đã thay đổi" [18]. Hurd đã nói rằng "almost everyone else who came in from the audition was so tough that you just never believed that there was gonna be this human connection between [Sarah Connor and Kyle Reese]. They have very little time to fall in love. A lot of people came in and just could not pull it off."[19] Trong vài trang đầu tiên của kịch bản, nhân vật của Sarah Connor là "19, small and delicate features. Pretty in a flawed, accessible way. She doesn't stop the party when she walks in, but you'd like to get to know her. Her vulnerable quality masks a strength even she doesn't know exists."[20] Với vai này, Cameron đã chọn Linda Hamilton, người vừa hoàn thành bộ phim Children of the Corn.[21] Cameron tìm thấy một vai trò cho Lance Henriksen là Thám tử Hal Vukovich, vì ông là người đã tìm kiếm tài chính cho bộ phim [22]. Đối với các hiệu ứng đặc biệt trong bộ phim, Cameron muốn Dick Smith người đã từng làm việc cho The GodfatherTaxi Driver. Smith đã từ chối lời mời của Cameron và gợi ý rằng người bạn của ông là Stan Winston cho công việc [23].

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim ban đầu dự định quay vào mùa xuân 1983 tại thành phố Toronto, nhưng việc sản xuất bị ngừng lại sau khi Dino De Laurentiis chọn Schwarzenegger vào vai chính trong phim Conan Kẻ phá hủy. Trong thời gian đó, Cameron đã ký hợp đồng viết kịch bản cho Rambo: First Blood Part II. Ông cũng sử dụng thời gian này để tinh chỉnh các bộ phận của kịch bản Kẻ hủy diệt và gặp gỡ với các nhà sản xuất David GilerWalter Hill để thảo luận về một phần tiếp theo của Alien [22][24]. Cuối cùng họ quyết định dùng một thiết kế gần giống với bản gốc Cameron đã vẽ ở Rome [23][25]. Winston đã có một đội ngũ 7 nghệ sĩ làm việc trong sáu tháng để tạo ra một con rối của Kẻ hủy diệt. Nó lần đầu tiên được đúc bằng đất sét, sau đó là thạch cao được gia cố bằng khung thép. Những mảnh này sau đó được đánh giấy ráp, sơn và mạ chrome.

Phim cũng có một số sự can thiệp hạn chế của Orion Pictures. Hai đề xuất mà Orion đưa ra bao gồm việc bổ sung một con chó máy cho Reese mà Cameron đã từ chối và thứ hai là tăng cường sự quan tâm tình yêu giữa Sarah và Reese mà Cameron chấp nhận [26]. Khi tạo vẻ ngoài của Kẻ hủy diệt, Winston và Cameron đã thông qua các bản phác thảo của nhau. Winston cũng khắc chạm khuôn mặt của Schwarzenegger trong một số mẫu bằng đất sét, siliconethạch cao [25]. Cả hai có trình tự vào năm 2029 và những cảnh chuyển động dừng lại trong bộ phim được phát triển bởi Fantasy II, một công ty hiệu ứng đặc biệt do Gene Warren Junior làm chủ [27] Một mô hình chuyển động dừng lại được sử dụng trong một vài cảnh trong bộ phim liên quan đến khung xương. Cameron muốn thuyết phục khán giả rằng mô hình của cấu trúc có khả năng làm những gì họ nhìn thấy Schwarzenegger làm. Để cho phép điều này, cảnh được quay là của Schwarzenegger bị thương và khập khiễng bước9 đi. Cảnh khập khiễng này được thực hiện dễ dàng hơn cho các mô hình bắt chước Schwarzenegger [28][29]

Trong tháng 3 năm 1984, bộ phim đã bắt đầu sản xuất ở Los Angeles [25][30]. Cameron cảm thấy rằng với Schwarzenegger nằm trong thiết lập, phong cách của bộ phim đã thay đổi, giải thích rằng "...the movie took on a larger than life sheen. I just found myself on the set doing things I didn't think I would do – scenes that were just purely horrific that just couldn't be, because now they were too flamboyant."[31][32]. Hầu hết bộ phim là những cảnh hành động được quay vào ban đêm, dẫn tới tiến độ quay phim chặt chẽ trước khi mặt trời mọc. Một tuần trước khi bộ phim bắt đầu, Linda Hamilton bị bong gân mắt cá chân của mình, dẫn đến thay đổi sản xuất, theo đó những cảnh trong đó Hamilton cần phải chạy đã xảy ra muộn vì lịch trình quay phim được cho phép. Hamilton đã chụp mắt cá chân mỗi ngày và cô ấy đã dành hầu hết thời gian sản xuất phim trong đau đớn [33].

Sau sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi sản xuất hoàn tất Kẻ hủy diệt, một số ảnh chụp sau sản xuất được phát hành [34].

Những ảnh này bao gồm cả những cảnh thể hiện Kẻ hủy diệt ở bên ngoài căn hộ của Sarah Connor, Reese được nén vào một túi dựng xác, và đầu của Kẻ hủy diệt bị nghiền nát được đăng lên báo chí là[14][14][30][30][34][34] Nhạc của phim được sáng tác bởi Brad Fiedel [35]. Fiedel mô tả nhạc của bộ phim như là về "một người thợ máy và nhịp tim của anh" [36]. Hầu như tất cả các nhạc trong phim được thực hiện trực tiếp [6] [36]. Nhạc chủ đề của Kẻ hủy diệt được chơi trên các khoản tín dụng mở và được chơi trong các thời điểm khác nhau trong bộ phim với phiên bản tăng tốc: một phiên bản chậm lại khi Reese chết, và phiên bản piano vào một trong những cảnh tình yêu [37] Fiedel tạo ra bài nhạc khi Reese và Connor thoát khỏi đồn cảnh sát để có thể thích hợp cho một "thời điểm anh hùng". Cameron đã từ chối nhạc chủ đề này, vì ông tin rằng nó sẽ gây mất hứng thú của các khán giả [36]. Các nhạc nền cho bộ phim được phát hành vào năm 1984 [35].

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Orion Pictures đã không có niềm tin vào Kẻ hủy diệt hoạt động tốt tại các phòng vé và lo sợ một loạt các đánh giá tiêu cực [38]. Tại sàng lọc ban đầu của bộ phim, người đại diện của các diễn viên khẳng định với nhà sản xuất là bộ phim sẽ được chiếu cho các nhà phê bình [14]. Orion chỉ tổ chức 1 buổi kiểm tra báo chí cho bộ phim [38]. Bộ phim được công chiếu vào ngày 26 tháng 10 năm 1984. Vào tuần khai trương, Kẻ hủy diệt được chiếu tại 1.005 rạp và thu về 4.020.663 $ làm cho nó đứng số 1 trong các phòng vé. Bộ phim vẫn là số một ở tuần thứ hai nhưng bị mất một số lượng điểm trong tuần thứ ba sau bộ phim Oh, God! You Devil.[39][40] Cameron lưu ý rằng phim là một cú hit "relative to its market, which is between the summer and the Christmas blockbusters. But it's better to be a big fish in a small pond than the other way around."[41]

Nhà văn Harlan Ellison nói rằng ông "loved the movie, was just blown away by it" [42], nhưng tin rằng kịch bản phim dựa trên một tập của The Outer Limits ông đã viết, có tiêu đề "Soldier".[43] Orion cho Ellison một số tiền không được tiết lộ và tín dụng một trong sau đó in của bộ phim [43]. Demon with a Glass Hand, 1 tập khác của The Outer Limits cũng tuyên bố đã bị ăn cắp ý tưởng bởi bộ phim [42][44][45][46][47], nhưng Ellison đã quy định rõ ràng rằng The Terminator "là một ripoff" của "Soldier" hơn là "Demon with a Glass Hand".

Cameron đã chống lại quyết định của Orion và được cho biết rằng nếu ông không đồng ý với giải quyết, họ sẽ buộc Cameron trả tiền cho bất kỳ thiệt hại nào nếu Orion không làm vừa lòng Ellison [44]. Cameron trả lời rằng ông "had no choice but to agree with the settlement. Of course there was a gag order as well, so I couldn't tell this story, but now I frankly don't care. It's the truth Harlan Ellison is a parasite who can kiss my ass."[44][48].

Marketing[sửa | sửa mã nguồn]

Trang chủ video[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Kẻ hủy diệt là một bộ phim kinh phí thấp, vào khoảng 6.5 triệu dollar Mỹ, nhưng đã trở thành một hiện tượng phòng vé, khi đạt được doanh thu hơn 38 triệu dollar Mỹ chỉ riêng tại thị trường Bắc Mỹ và hơn 78 triệu dollar Mỹ trên toàn thế giới. [49] Bộ phim nhận được rất nhiều bài phê bình tốt. Trên các trang web Rotten Tomatoes [50]Metacritic [51] bộ phim nhận được lần lượt là 100% và 84% là các bài khen dành cho bộ phim. Bộ phim nằm trong Top 250 phim hay nhất mọi thời đại của trang web IMDb [52]

Năm 2001, Kẻ hủy diệt xếp hạng thứ 42 trên danh sách 100 phim rùng rợn và ly kỳ trong thế kỷ của Viện phim Mỹ. [53]

Năm 2005, Total Film vinh danh Kẻ hủy diệt là bộ phim hay thứ 72 của nhân loại. [54]

Năm 2008, Kẻ hủy diệt được Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ công nhận là "có đầy đủ tính văn hóa, lịch sử và tính mỹ học" cũng như được chọn bảo quản trong Viện lưu trữ phim quốc gia Mỹ.[55]

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

The Terminator
Album nhạc phim của Brad Fiedel
Phát hành 1984 (1984)
Thu âm Electric Melody Studios in Glendale, California
Thể loại Nhạc phim
Thời lượng 35:32 (Ấn bản gốc)
72:05 (Ấn bản chính thức)
Hãng đĩa DCC, Edel
Sản xuất Brad Fiedel
Đánh giá chuyên môn
The Terminator: The Definite Edition
1994 reissue cover

Nhạc phim gồm các đoạn nhạc nền và một số ca khúc được sáng tác và hòa âm bởi Brad Fiedel được chia ra làm hai ấn bản

Ấn bản gốc (Original Edition)

Toàn bộ nhạc phẩm đều được soạn và sáng tác bởi Brad Fiedel, trừ một số nhạc phẩm được đánh dấu. 

STT Tên bài hát Thời lượng
1. "The Terminator Theme"   4:30
2. "Terminator Arrival"   3:00
3. "Tunnel Chase"   2:50
4. "Love Scene"   1:15
5. "Future Remembered"   2:40
6. "Factory Chase"   3:50
7. "You Can't Do That" (Tahnee Cain & Tryanglz) 3:25
8. "Burnin' in the Third Degree" (Cain & Tryanglz) 3:38
9. "Pictures of You" (Jay Ferguson & 16mm) 3:58
10. "Photoplay" (Cain & Tryanglz) 3:30
11. "Intimacy" (Lin Van Hek) 3:40

Ấn bản chính thức (Definitive Edition)

Toàn bộ nhạc phẩm đều được soạn và sáng tác bởi Brad Fiedel

STT Tên bài hát Thời lượng
1. "Theme from "The Terminator""   4:16
2. ""The Terminator" Main Title"   2:17
3. "The Terminator's Arrival"   4:57
4. "Reese Chased"   3:50
5. "Sarah on Her Motorbike"   0:38
6. "Gun Shop/Reese in Alley"   1:30
7. "Sarah in the Bar"   1:52
8. "Tech Noir/Alley Chase"   7:38
9. "Garage Chase"   6:52
10. "Arm & Eye Surgery"   3:19
11. "Police Station/Escape from Police Station"   4:49
12. "Future Flashback/Terminator Infiltration"   4:18
13. "Conversation by the Window/Love Scene"   3:45
14. "Tunnel Chase"   3:38
15. "Death By Fire/Terminator Gets Up"   3:13
16. "Factory Chase"   3:57
17. "Reese's Death/Terminator Sits Up/"You're Terminated!""   3:28
18. "Sarah's Destiny/The Coming Storm"   3:04
19. "Theme From "The Terminator" (August 29th, 1997, JUDGEMENT DAY ReMix)"   4:44

Các giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim đạt thành công lớn tại Giải Sao Thổ (Saturn Award) năm 1985 do Viện Hàn lâm phim Khoa học viễn tưởng, Tưởng tượng và Kinh dị Hoa Kỳ tổ chức

Chiến thắng

  • Hóa trang tốt nhất: Stan Winston
  • Phim khoa học viễn tưởng hay nhất
  • Kịch bản hay nhất: James Cameron, Gale Anne Hurd

Đề cử

  • Nam diễn viên chính xuất sắc nhất: Arnold Schwarzenegger
  • Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất: Linda Hamilton
  • Đạo diễn xuất sắc nhất: James Cameron
  • Nhạc phim xuất sắc nhất: Brad Fiedel

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chase, Donald; Meyers, Kate (12 tháng 7 năm 1991). “65 Words...And Arnold Was a Star”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2010. 
  2. ^ Keegan, 2009. p. 34
  3. ^ Keegan, 2009. p. 35
  4. ^ French, 1996. p. 15
  5. ^ French, 1996. p. 20
  6. ^ a ă â Keegan, 2009. p. 36
  7. ^ a ă Keegan, 2009. p. 110
  8. ^ a ă Keegan, 2009. p. 111
  9. ^ Keegan, 2009. p. 37
  10. ^ a ă Keegan, 2009. p. 38
  11. ^ a ă Keegan, 2009. p. 39
  12. ^ French, 1996. p. 6
  13. ^ Daly, Steve (23 tháng 3 năm 2009). “Creator James Cameron on Terminator's Origins, Arnold as Robot, Machine Wars”. Wired. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010. 
  14. ^ a ă â b Hurd, Gale Anne (producer). (2001). Other Voices documentary. [The Terminator [Special Edition] DVD]. MGM. 
  15. ^ a ă Keegan, 2009. p. 40
  16. ^ a ă Keegan, 2009. p. 41
  17. ^ Andrews, 2003. p. 120–121
  18. ^ a ă Keegan, 2009. p. 42
  19. ^ Keegan, 2009. p. 43
  20. ^ Keegan, 2009. p. 44
  21. ^ Keegan, 2009. p. 45
  22. ^ a ă Keegan, 2009. p. 46
  23. ^ a ă Keegan, 2009. p. 50
  24. ^ Keegan, 2009. p. 47–49
  25. ^ a ă â Keegan, 2009. p. 51
  26. ^ French, 1996. p. 23
  27. ^ French, 1996. p. 24
  28. ^ French, 1996. p. 25
  29. ^ French, 1996. p. 26
  30. ^ a ă â Wisher, William (screenwriter). (2001). Other Voices documentary. [The Terminator [Special Edition] DVD]. MGM. 
  31. ^ French, 1996. p. 30
  32. ^ French, 1996. p. 31
  33. ^ Keegan, 2009. p. 52
  34. ^ a ă â Goldblatt, Mark (editor). (2001). Other Voices documentary. [The Terminator [Special Edition] DVD]. MGM. 
  35. ^ a ă Adams, Bret. “The Terminator: Overview”. Allmusic. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2010. 
  36. ^ a ă â Fiedel, Brad (composer). (2001). Other Voices documentary. [The Terminator [Special Edition] DVD]. MGM. 
  37. ^ Hayward, 2004. p.168
  38. ^ a ă Keegan, 2009. p.53
  39. ^ “The Terminator - Box Office Data”. The Numbers. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2010. 
  40. ^ “The Top Movies, Weekend of November 9, 1984”. The Numbers. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2010. 
  41. ^ “'The Terminator' surprises the critics; is a top grosser”. Tri City Herald. 30 tháng 11 năm 1984. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2010. 
  42. ^ a ă Heard, 1997. p.41
  43. ^ a ă Ellison, Harlan. “The Ellison Bulletin Board”. HarlanEllison.com. 
  44. ^ a ă â Keegan, 2009. p. 54
  45. ^ French, 1996. p. 16
  46. ^ Evans, Greg. (15 tháng 7 năm 2007). The New York Times “It Came From the ’60s, Cheesy but Influential”. 
  47. ^ Axmaker, Sean. Turner Classic Movies “The Terminator”.  Retrieved January 28, 2011.
  48. ^ Keegan, 2009. p. 55
  49. ^ "The Terminator (1984)" tại Box Office Mojo
  50. ^ "The Terminator Movie Reviews, Pictures - Rotten Tomatoes"
  51. ^ "Terminator, The (1984): Reviews" tại Metacritic.com
  52. ^ "IMDb top 250"
  53. ^ "AFI's 100 years...100 thrills" tại http://www.afi.com/
  54. ^ "Who is the Greatest" theo tạp chí TotalFilm
  55. ^ "'Terminator' selected for preservation" by Simon Reynolds, December 31 2008

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Trang web chính thức

Tổng hợp các liên kết