Kỳ giông khổng lồ Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kỳ giông khổng lồ Nhật Bản
Cryptobranchus japonicus.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Amphibia
Bộ (ordo) Caudata
Họ (familia) Cryptobranchidae
Chi (genus) Andrias
Loài (species) A. japonicus
Danh pháp hai phần
Andrias japonicus
(Temminck, 1837)
Danh pháp đồng nghĩa
  • Megalobatrachus japonicus (Xem xét bởi Sato 1943)[1]

Kỳ giông khổng lồ Nhật Bản (danh pháp khoa học: Andrias japonicus) là một loài kỳ giông đặc hữu Nhật Bản, nơi nó được gọi là Ōsanshōuo (Nhật: オオサンショウウオ/大山椒魚?), nghĩa là "cá hạt tiêu khổng lồ". Với chiều dài lên đến 1,5 mét,[2] nó là loài kỳ giông lớn thứ nhì trên thế giới, chỉ sau kỳ giông khổng lồ Trung Quốc (A. davidianus).

Hành vi[sửa | sửa mã nguồn]

Kỳ giông khổng lồ của Nhật Bản, giới hạn trong các suối với nước lạnh trong, sống hoàn toàn dưới nước và sinh hoạt về đêm. Không giống như những loài kỳ giông khác rụng mang sớm trong chu kỳ cuộc sống của chúng, chúng chỉ ngoi đầu lên mặt nước để lấy không khí mà không mạo hiểm ra khỏi nước và trên đất. Ngoài ra do kích thước lớn và thiếu mang, chúng bị hạn chế ở khu vực nước chảy và chứa nhiều oxy.[3] Khi bị đe dọa, loài kỳ nhông này có thể tiết ra một chất màu trắng đục có mùi mạnh có mùi giống như hạt tiêu Nhật Bản (vì thế tên của nó trong tiếng Nhật là cá hạt tiêu khổng lồ). Loài này có thị lực rất kém, và sở hữu các tế bào đặc biệt cảm giác bao gồm da của nó, chạy từ đầu đến chân. Những tế bào cảm giác có hình dạng như lông phát hiện rung động nhỏ trong môi trường, và khá giống với các tế bào lông của tai trong của con người. Tính năng này là cần thiết để giúp nó săn mồi do thị lực kém của nó. Loài kỳ giông này chủ yếu là côn trùng, ếch nhái và cá. Nó có quá trình trao đổi chất chậm và thiếu các đối thủ cạnh tranh tự nhiên. Nó là một loài sống lâu, với kỷ lục một con nuôi nhốt ở Natura Artis Magistra, Hà Lan, sống đến 52 năm.[2] Trong tự nhiên chúng có thể sống đến 80 năm.

Một cặp Kỳ giông khổng lồ Nhật Bản nuôi nhốt

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kỳ nhông khổng lồ Nhật Bản (aka Hanzaki) lần đầu tiên được xếp vào mục lục bởi những người châu Âu khi bác sĩ nội trú của đảo Dejima ở Nagasaki, Philipp Franz von Siebold bắt một cá thể và vận chuyển nó trở lại Leiden ở Hà Lan, vào những năm 1820. Loài này được chọn là loài vật biểu tượng quốc gia đặc biệt vào năm 1951 và đã được bảo vệ.[4] Nó là một loài sống sót từ Thượng kỷ Jura, cách đây khoảng 140 triệu năm.

Tình trạng[sửa | sửa mã nguồn]

Kỳ giông khổng lồ Nhật Bản đang bị đe dọa bởi nạn ô nhiễm, sự mất môi trường sống (trong số những thay đổi khác, bởi các lắng bùn lên trên thượng lưu của các con sông nơi nó sinh sống), và săn bắt quá mức. Nó được coi là loài sắp bị đe dọa bởi IUCN, và đã được đưa vào Appendix I của CITES.[5] Nó có thể được tìm thấy trên các đảo Kyushu]], HonshuShikoku ở Nhật Bản. Trong quá khứ, chúng đã bị người ta đánh bắt ở các con sông, suối làm thực phẩm, nhưng hiện nay việc săn bắn đã chấm dứt bởi các đạo luật bảo vệ.

Chu kỳ sống[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng đời tương tự như của loài kỳ giông lưỡng cư ngoại trừ nó không lên cạn và vẫn ở dưới nước trong suốt tuổi trưởng thành. Cụ thể, kỳ nhông khổng lồ Nhật Bản đi lên dòng suối trên núi để đẻ trứng. Ấu trùng chui ra khỏi trứng và mất mang của chúng khi chúng trưởng thành.

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Kỳ giông Hynobiidae thụ tinh bên ngoài. Và, không giống như các họ kỳ giông khác mà sinh sản bên trong, con đực hynobiidae tập trung vào túi trứng chứ không phải là con cái trong thời kỳ sinh sản (Hasumi, 2002). Con cái đẻ hai túi trứng tại một thời điểm, có đến 70 trứng. Cha mẹ chăm sóc con là hành vi phổ biến.

Trong văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Ukiyo-e in bởi Utagawa Kuniyoshi minh họa một con kỳ giông khổng lồ bị đâm bởi samurai Hanagami Danjō no jō Arakage.

Kỳ giông khổng lồ Nhật Bản đã là chủ đề của các truyền thuyết và tác phẩm nghệ thuật ở Nhật Bản, ví dụ như trong tác phẩm ukiyo-e bởi Utagawa Kuniyoshi. Người ta cho rằng sinh vật thần thoại Nhật Bản nổi tiếng được biết đến như kappa trên thực tế là kỳ nhông khổng lồ Nhật Bản[6]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Amphibian Species of the World - Andrias japonicus (Temminck, 1836)”. Research.amnh.org. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010. 
  2. ^ a ă Andrias japonicus - Amphibiaweb
  3. ^ The Encyclopedia of Reptiles and Amphibians. Facts on File Inc. 1986. ISBN 0-8160-1359-4. 
  4. ^ “オオサンショウウオ”. The Agency for Cultural Affairs. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2011. (tiếng Nhật)
  5. ^ Japanese giant salamander. ARKive. Retrieved 2008-09-19.
  6. ^ "River Monsters" programme 6 Series 3 directed by Duncan Chard, screened in UK on ITV1 14.02.2012 at 19.30

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Andrias japonicus tại Wikimedia Commons