Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia lớp 12 trung học phổ thông Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia lớp 12 trung học phổ thông là kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp Quốc gia bậc học Trung học phổ thông dành cho học sinh lớp 11 và lớp 12 do Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam tổ chức vào tháng 3 hàng năm. Những học sinh đạt giải cao nhất trong kỳ thi này được lựa chọn vào các đội tuyển Quốc gia Việt Nam tham dự Olympic quốc tế.[1] Những học sinh đạt giải Nhất, Nhì, Ba được ưu tiên tuyển vào các trường đại học. Những học sinh đạt giải Khuyến khích được ưu tiên tuyển vào các trường cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp.[2] Kỳ thi này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá chất lượng học tập giữa học sinh các tỉnh thành ở Việt Nam.

Mục đích kỳ thi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thi chọn học sinh giỏi nhằm động viên, khuyến khích người dạy và người học phát huy năng lực sáng tạo, dạy giỏi, học giỏi
  • Góp phần thúc đẩy việc cải tiến, nâng cao chất lượng dạy và học, chất lượng công tác quản lý, chỉ đạo của các cấp quản lý giáo dục
  • Phát hiện người học có năng khiếu về môn học để tạo nguồn bồi dưỡng, thực hiện mục tiêu đào tạo nhân tài cho địa phương, đất nước.
  • Chọn học sinh giỏi cấp quốc gia bậc học trung học phổ thông của Việt Nam.
  • Chọn đội tuyển dự thi Olympic quốc tế trong số những người đạt giải cao nhất.[1]

Thời gian tổ chức kỳ thi[sửa | sửa mã nguồn]

Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia có 02 buổi thi cho các môn có thi quốc tế, 01 buổi thi cho các môn còn lại.[3]

Thời gian làm bài thi là 180 phút đối với mỗi môn thi tự luận, 90 phút đối với mỗi môn thi trắc nghiệm, 90 phút tự luận và 45 phút trắc nghiệm đối với môn thi có cả tự luận và trắc nghiệm.[3]

Các môn thi[sửa | sửa mã nguồn]

Các môn thi gồm có: Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tin học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Tiếng Anh, Tiếng Nga, Tiếng Pháp, Tiếng Trung Quốc.[4]

Nội dung thi[sửa | sửa mã nguồn]

Nội dung thi được thực hiện theo hướng dẫn nội dung dạy học các môn chuyên trường trung học phổ thông chuyên do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, áp dụng từ năm học 2001-2002.[4]

Địa điểm thi[sửa | sửa mã nguồn]

Kỳ thi được tổ chức thi tại đơn vị dự thi hoặc các đơn vị dự thi liên kết tổ chức thi chung tại một địa điểm.

Đối tượng dự thi[sửa | sửa mã nguồn]

Đối tượng dự thi là học sinh đang học lớp 11 hoặc lớp 12 ở Việt Nam đã tham gia kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp cơ sở (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và một số trường THPT chuyên thuộc các trường Đại học) và được chọn vào đội tuyển của đơn vị dự thi.[1]

Giới hạn số lượng thí sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia, đội tuyển mỗi môn thi của từng đơn vị dự thi có tối đa 06 thí sinh. Các đội tuyển có không dưới 06 thí sinh dự thi và có 80% số thí sinh trở lên đoạt giải trong 02 kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia liên tiếp ngay trước năm tổ chức kỳ thi, được Bộ Giáo dục và Đào tạo tạo xét tăng đến tối đa 10 thí sinh.[1]

Chia bảng đơn vị dự thi[sửa | sửa mã nguồn]

Các đơn vị dự thi được sắp xếp vào 2 bảng, cụ thể như sau:[3]

a. Bảng A, gồm: Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Đồng Nai, Đại học Khoa học tự nhiên (ĐHQG Hà Nội), Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Ngoại ngữ (ĐHQG Hà Nội), Đại học Vinh, Đại học Huế, Trường Phổ thông Năng khiếu (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh).

b. Bảng B, gồm:

Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình, Gia Lai, Kon Tum, Đak Lak, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, An Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Kiên Giang, Trường phổ thông vùng cao Việt Bắc.

Riêng môn Tin học:

a. Bảng A, chỉ bao gồm: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nam Định, Thanh Hoá, Thừa Thiên - Huế, Đại học Khoa học tự nhiên (ĐHQG Hà Nội), Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Phổ thông Năng khiếu (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), Đại học Huế, Đại học Vinh (nếu có).

b. Bảng B, gồm: Các đơn vị đăng ký thi còn lại.

Đề thi bảng A nói chung khó hơn đề thi bảng B.

Hiện nay, để bảo đảm tính công bằng và để chọn ra học sinh thực sự giỏi, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã huỷ bỏ cơ chế chia bảng. Tất cả các thí sinh ở các tỉnh thành đều làm chung một đề.

Mỗi thí sinh chỉ tham dự một môn thi.[1]

Cán bộ coi thi[sửa | sửa mã nguồn]

Cán bộ coi thi là các giáo viên trung học phổ thông của các tỉnh.[3]

Cán bộ coi thi tỉnh này được cử đi coi thi tỉnh khác.

Ban giám khảo[sửa | sửa mã nguồn]

- Trưởng ban là lãnh đạo Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục;

- Phó Trưởng ban là Phó Cục trưởng Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục hoặc lãnh đạo Vụ Giáo dục Trung học;

- Các giám khảo là các chuyên gia khoa học, chuyên viên, giảng viên có uy tín khoa học và năng lực chuyên môn ở một số đại học, học viện, trường đại học, cơ quan, cơ sở giáo dục ở Trung ương. Mỗi môn thi có một Trưởng môn chấm thi phụ trách.[1]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Có các giải thưởng sau: giải Nhất, giải Nhì, giải Ba và giải Khuyến khích.

Chỉ xếp giải cá nhân theo từng môn thi.

Người đạt các giải Nhất, Nhì, Ba, Khuyến khích trong kỳ thi này được Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam cấp bằng chứng nhận Học sinh giỏi cấp quốc gia trung học phổ thông.

Quyền lợi của người đạt giải[sửa | sửa mã nguồn]

Những người đạt giải Nhất, Nhì, Ba trong kỳ thi này được ưu tuyển vào trường đại học có khối ngành phù hợp với môn đã dự thi.

Những người đạt giải Khuyến khích trong kỳ thi này được ưu tiên tuyển vào trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp nào có khối ngành phù hợp với môn đã dự thi.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d [1] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quy chế chọn học sinh giỏi
  2. ^ “Điều kiện tuyển thẳng đại học”. Báo Người lao động. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2010. 
  3. ^ a ă â b [2] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư hướng dẫn một số điều của quy chế thi chọn học sinh giỏi Quốc gia các bậc học phổ thông
  4. ^ a ă [3] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Mạng giáo dục - Education network, Hướng dẫn tổ chức kỳ thi chọn HSG quốc gia lớp 12 THPT năm 2010

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]