Kỳ thi tuyển sinh đại học và cao đẳng tại Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Giáo dục Việt Nam.png

    Giáo dục mầm non
    Giáo dục tiểu học
    Giáo dục trung học
    (Cơ sở, phổ thông, chuyên nghiệp)
    Giáo dục đại học
    (Cao đẳng, đại học, sau đại học)

    Giáo dục thường xuyên
    Đào tạo từ xa
    Đào tạo tại chức (vừa học vừa làm)

    Công lập
    Tư thục
    Bán công
    Dân lập

Các kỳ thi quan trọng

    Tốt nghiệp trung học phổ thông
    Tuyển sinh đại học và cao đẳng

Kỳ thi tuyển sinh đại học và cao đẳng là một kì thi chung nhằm mục đích lấy đầu vào cho các trường đại học và cao đẳng tại Việt Nam. Kì thi này do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hằng năm, ngay sau kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông khoảng một tháng. Theo như những dự định ban đầu, hai kì thi trên sẽ được gộp lại làm một vào năm 2010 nhưng sau đó đã không thực hiện được[1][2]. Những năm gần đây, kì thi được tổ chức vào đầu và giữa tháng 7 cố định theo lịch sau:

Điều kiện[sửa | sửa mã nguồn]

Những ai đã có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, giấy chứng nhận tốt nghiệp trung học phổ thông tạm thời hoặc bậc học tương đương (bổ túc, trung học nghề).

Các khối thi và môn thi[sửa | sửa mã nguồn]

Khối cơ bản[sửa | sửa mã nguồn]

Khối A1 là khối thi mới được bổ sung từ kì thi năm 2012 [3], theo đó hai môn (Toán, Vật lí thi theo đề khối A) còn Tiếng Anh thi theo đề riêng.

Khối D5 và D6 được bổ sung từ kì thi năm 2008.

Khối năng khiếu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Khối H: Văn, Họa (Hình họa bằng bút chì và vẽ trang trí màu)
  • Khối K: Toán, Vật lí, Kĩ thuật
  • Khối M: Văn, Toán, Năng khiếu mẫu giáo (Hát, Kể chuyện, Đọc diễn cảm)
  • Khối N: Văn, 2 môn Năng khiếu nhạc (Thẩm âm - Tiết tấu và Thanh nhạc)
  • Khối R: Văn, Lịch sử, Năng khiếu báo chí
  • Khối T: Sinh học, Toán, Năng khiếu thể dục thể thao (chạy cự li ngắn, bật tại chỗ, gập thân, có yêu cầu về hình thể)
  • Khối V: Toán, Vật lí, Vẽ
  • Khối S: Văn, 2 môn năng khiếu Sân khấu.
Phụ huynh và học sinh tại kỳ thi tuyển vào Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh năm 2012.

Hình thức thi[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm trước (từ năm 2001 trở về trước), mỗi trường tự tổ chức kì thi, dưới sự giám sát của Bộ giáo dục. Theo đó, thí sinh đăng kì dự thi bao nhiêu trường, thì phải trải qua bấy nhiêu kì thi. Điều nay gây nên sự tốn kém rất lớn, và mất công mất việc của rất nhiều các bậc phụ huynh, cũng như không thực sự cần thiết. Từ năm 2002 trở đi, Bộ Giáo dục tổ chức một kì thi duy nhất, sau đó kết quả được áp dụng sang các trường mà thí sinh đã đăng kí nguyện vọng [4].

Năm 2006, hình thức thi trắc nghiệm khách quan được áp dụng đầu tiên cho 4 môn Ngoại ngữ của khối D là Tiếng Anh, Tiếng Nga, Tiếng Pháp và Tiếng Trung; đề thi gồm 70 câu trắc nghiệm. Từ năm 2007 đến nay, hình thức thi này được Bộ nhân rộng và áp dụng cho các môn Vật lí, Hóa học, Sinh họcNgoại ngữ với thời gian làm bài là 90 phút, đề thi có 80 câu dành cho các môn Ngoại ngữ50 câu dành cho môn Vật lí, Hóa họcSinh học; bốn môn văn hóa còn lại là Toán, Văn, Lịch sửĐịa lí thi tự luận với thời gian làm bài là 180 phút.

Các khái niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Hồ sơ đăng kí dự thi[sửa | sửa mã nguồn]

Để được dự thi đại học hay cao đẳng, thí sinh cần có một bộ hồ sơ đăng kí và phải nộp trước khi thi để nhập dữ liệu. Bộ hồ sơ này gồm hai lá phiếu có nội dung khai báo như nhau: phiếu số 1 nộp cho trường đăng kí thi, phiếu số 2 thí sinh giữ để làm gốc. Sau khi tiếp nhận hồ sơ và nhập dữ liệu, trường sẽ gửi giấy báo dự thi về cho thí sinh. Giấy này rất quan trọng bởi vì có nó, thí sinh mới được phép vào phòng thi.

Điểm sàn[sửa | sửa mã nguồn]

Điểm sàn là mức điểm tối thiểu để các trường nhận đơn xét tuyển của thí sinh thi theo đề thi chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, điểm sàn chính thức được áp dụng từ năm 2004. Hiểu đơn giản, đây là mức điểm tối thiểu thí sinh cần phải đạt được để có quyền xét được xét tuyển vào các trường đại học, cao đẳng, nếu không đạt đến điểm sàn, thí sinh gần như đã không trúng tuyển. Một số trường hợp, điểm sàn có thể điều chỉnh theo từng trường nếu được phép của Bộ giáo dục.

Năm Đại học Cao đẳng
Khối A Khối A1 Khối B Khối C Khối D Khối A Khối A1 Khối B Khối C Khối D
2004 14 15 15 14 11 12 12 11
2005 15 15 14 14 12 12 11 11
2006 13 14 14 13 10 11 11 10
2007 15 15 14 13 12 12 11 10
2008 13 15 14 13 10 12 11 10
2009 13 14 14 13 10 11 11 10
2010 13 14 14 13 10 11 11 10
2011 13 14 14 13 10 11 11 10
2012 13 13 14 14,5 13,5 10 10 11 11,5 10,5
2013[5] 13 13 14 14 13,5 10 10 11 11 10

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bảo Anh. “Chưa tổ chức thi "2 trong 1" vào năm 2010”. VietNamNet. Truy cập 25 tháng 6.  Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |accessmonthday= (trợ giúp)
  2. ^ Tiến Dũng. “Năm 2010 chưa bỏ thi đại học”. VnExpress. Truy cập 26 tháng 6.  Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |accessmonthday= (trợ giúp)
  3. ^ Bộ GD-ĐT công bố toàn cảnh đổi mới tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2012 Báo Dân trí
  4. ^ Thông báo của Bộ GD - ĐT về công tác tuyển sinh vào các trường đại học và cao đẳng năm 2002
  5. ^ Thông báo kết luận của Hội đồng xác định điểm sàn xét tuyển đại học, cao đẳng hệ chính qui năm 2013, kí hiệu văn bản 999/2013/TB-BGDĐT Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, truy cập ngày 08 tháng 08 năm 2013