Kỷ Lâu Vương
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Thông tin trong bài này không thể kiểm chứng được do không được chú giải từ bất kỳ nguồn tham khảo nào. Xin bạn hãy cải thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn uy tín. Nếu bài được dịch từ Wikipedia ngôn ngữ khác thì hãy chuyển nguồn tham khảo từ phiên bản đó cho bài này. |
| Kỷ Lâu Vương | |
|---|---|
| Hangul |
기루왕
|
| Hanja (Hán tự) |
己婁王
|
| Hán-Việt | Kỉ Lâu Vương |
| McCune-Reischauer | Kiru-wang |
| Romaja quốc ngữ | Giru-wang |
Kỉ Lâu Vương (mất 128, trị vì 77–128) là vị quốc vương thứ 3 của Bách Tế, mộ trong Tam Quốc Triều Tiên. Ông là con trai cả của Đa Lâu Vương và trở thành thái tử năm 33. Lịch sử ít biết đến các chi tiết trong giai đoạn trị vì của ông. Tam quốc sử ký (Samguk Sagi) ghi chép một số thảm họa thiên nhiên như động đất, hạn hán, bão đã xảy ra tại vương quốc.
Ông bắt đầu xâm lấn vùng ngoại vi của Tân La từ năm 85, song đã ký một thỏa ước hòa bình năm 105. Bách Tế và Tân La ở trong trạng thái hòa bình sau đó. Năm 125, Kỉ Lâu Vương gửi quân giúp Tân La theo yêu cầu của Kì Ma ni sư kim nhằm đẩy lùi một cuộc xâm lấn của người Mạt Hạt.
Tham khảo [sửa]
Xem thêm [sửa]
|
||||||||