Kaga (tàu sân bay Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kaga Field Manual FM 30-58.jpg
Tàu sân bay "Kaga", ảnh chụp bởi Hải quân Đế quốc Nhật Bản
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Đặt tên theo: tỉnh Kaga
Hãng đóng tàu: Kawasaki Heavy Industries, Kobe
Đặt lườn: 19 tháng 7 năm 1920
Hạ thủy: 17 tháng 11 năm 1921
Hoạt động: 1 tháng 11 năm 1929
Xóa đăng bạ: 10 tháng 8 năm 1942
Số phận: Thiệt hại bởi máy bay Mỹ trong trận chiến Midway ngày 4 tháng 6 năm 1942; đánh đắm sau khi bỏ tàu
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu sân bay riêng lẽ
Trọng tải choán nước: 38.200 tấn (tiêu chuẩn) (sau khi tái cấu trúc)
Độ dài: 247,6 m (812 ft 6 in) (chung)
Sườn ngang: 32,5 m (106 ft 7 in)
Mớn nước: 8,7 m (28 ft 6 in)
Động cơ đẩy: 4 × turbine Brown-Curtis
8 × nồi hơi Kanpon
4 × trục,
công suất 93,7 MW (127.400 mã lực)
Tốc độ: 52,8 km/h (28,5 knot)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.708 (sau khi tái cấu trúc)
Vũ trang: 10 × pháo 200 mm (8 inch) (10×1)
16 × pháo 120 mm (4,7 inch)
22 × pháo phòng không 25 mm
Máy bay mang theo: 72(+18): 18 × Zero, 27 × Val,
27 × Kate (tháng 12 năm 1941)

Kaga (tiếng Nhật: 加賀, Gia Hạ, đặt tên theo tỉnh Kaga trước đây, ngày nay là tỉnh Ishikawa) là một tàu sân bay của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, ban đầu được dự định như là một thiết giáp hạm nhanh thuộc lớp Tosa. Nó tham gia vào trận tập kích Trân Châu Cảng ngày 7 tháng 12 năm 1941; và bị đánh chìm cùng với ba tàu sân bay lớn khác trong trận Midway vào ngày 4 tháng 6 năm 1942.[1]

Mục lục

[sửa] Mô tả

Kaga được khởi đầu như là một chiếc thiết giáp hạm nhanh thuộc lớp Tosa, và được hạ thủy vào ngày 17 tháng 11 năm 1921 tại xưởng đóng tàu Kawasaki Heavy IndustriesKobe. Vào ngày 5 tháng 2 năm 1922 cả hai chiếc thiết giáp hạm lớp Tosa bị hủy bỏ và được chỉ định cho tháo dỡ theo những điều khoản của Hiệp ước Hải quân Washington. Hiệp ước này cho phép chuyển đổi sườn của hai thiết giáp hạm hay tàu chiến-tuần dương có trọng lượng rẽ nước đến mức 33.000 tấn trở thành tàu sân bay. Ban đầu, hai chiếc tàu chiến-tuần dương chưa hoàn tất AmagiAkagi được chọn, nhưng trận động đất Kantō (Quan Đông đại chấn tai) ngày 1 tháng 9 năm 1923 đã phá hủy sườn chiếc Amagi đến mức không thể sửa chữa. Do đó chiếc Kaga được chọn để tiếp tục hoàn tất như là một tàu sân bay.

Việc chuyển đổi chiếc Kaga's được bắt đầu vào năm 1923 và kéo dài đến tận năm 1928. Sau khi hoàn tất, chiếc tàu sân bay có hai sàn chứa máy bay bay chính và một sàn chứa phụ thứ ba có khả năng chứa tổng cộng 60 máy bay. Các sàn chính chứa máy bay được mở ra trên hai sàn cất cánh chồng lên nhau về phía mũi tàu. Trên lý thuyết, điều này cho phép máy bay có thể cất cánh trực tiếp từ các sàn chứa, trong khi việc hạ cánh được thực hiện trên sàn đáp chính. Khói tàu được góp lại trong một cặp ống dẫn dọc và được xả ra hai bên đoạn dốc của sàn đáp. Chiếc Kaga được trang bị mười khẩu pháo 200 mm (7,9 in) phối hợp các tháp súng đôi và ổ súng. Đai vỏ giáp và vỏ giáp sàn tàu bị giảm đáng kể. Nó không được trang bị máy phóng cho máy bay.[2]

Sau khi hoàn tất, chiếc Kaga được cho chạy thử trong hai năm trước khi được đưa vào hoạt động. Trong phục vụ, việc sắp xếp nhiều sàn cất cánh và hạ cánh tỏ ra không thành công. Do đó vào năm 1934, chiếc Kaga được cấu trúc lớn lại lần thứ hai. Sàn đáp và các sàn chứa máy bay được kéo dài đến mũi, chiều dài của sàn đáp được tăng lên 247,6 m (812,5 ft) và có khả năng chứa 90 máy bay. Một thang nâng thứ ba phục vụ cho phần sàn chứa máy bay được kéo dài. Các nồi hơi và tua-bin mới nâng công suất từ 91.000 lên 127.400 mã lực. Sườn tàu được kéo dài thêm 10,4 m (34 ft) ở phần đuôi và ống dẫn khói dọc dài được thay thế bằng một duy khói duy nhất hướng xuống dưới bên mạn phải. Một đảo cấu trúc thượng tầng nhỏ bên mạn phải tàu cũng được trang bị.[2] Trọng lượng rẽ nước chuẩn được gia tăng gần 9.000 tấn, từ 29.600 lên 38.200 tấn.

[sửa] Lịch sử hoạt động

Kaga quay lại hoạt động vào năm 1935. Vào những năm cuối của thập niên 1930, chiếc Kaga hỗ trợ các chiến dịch tại Trung Quốc, và tham gia vào sự kiện Thượng Hải xảy ra ngày 28 tháng 1 năm 1932 và trong những năm đầu của cuộc Chiến tranh Trung-Nhật.

Vào lúc bắt đầu Thế Chiến II, Kaga dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng Jisaku Okada. Nó cùng với chiếc tàu sân bay Akagi tạo nên Hạm đội Tàu sân bay 1 của Lực lượng Đặc nhiệm trong trận Trân Châu Cảng. Vào ngày 7 tháng 12 năm 1941 nó tung ra hai đợt không kích vào đảo Oahu. Trong đợt không kích thứ nhất, 26 chiếc máy bay ném ngư lôi Nakajima B5N "Kate" đã nhắm vào những chiếc Arizona, Vestal, Tennessee, West Virginia, OklahomaNevada, trong khi chín chiếc máy bay tiêm kích Mitsubishi A6M "Zero" tấn công vào phi trường Hickam. Trong đợt không kích thứ hai, 23 chiếc máy bay ném bom bổ nhào Aichi D3A "Val" đã nhắm vào những chiếc Nevada, Maryland, and West Virginia.

Vào tháng 1 năm 1942, cùng với chiếc Akagi, Kaga đã hỗ trợ cho trận tấn công Rabaul trong quần đảo Bismarck. Vào ngày 9 tháng 2 nó va phải dãy san hô ngầm tại Palau. Sau những sửa chữa tạm thời, nó tiếp tục đi đến biển Timor, và vào ngày 19 tháng 2 năm 1942 nó tung ra đợt không kích vào Darwin (Úc)‎, đánh chìm chín tàu chiến bao gồm khu trục hạm USS Peary. Vào tháng 3 năm 1942, Kaga hỗ trợ cho cuộc xâm chiếm Java.

Kaga không thể tham gia vào trận không kích Ấn Độ Dương vào tháng 4 năm 1942 do những hư hỏng phải chịu đựng vào tháng Hai. Nó buộc phải quay về Sasebo để sửa chữa.

Chiếc Kaga lúc bắt đầu Thế Chiến II.

Vào tháng 5 năm 1942, Kaga bắt đầu khởi hành chuyến hải trình cuối cùng. Các phi đội máy bay của nó bao gồm 30 chiếc "Zero", 23 chiếc "Val" và 30 chiếc "Kate".[3] Vào ngày 4 tháng năm 1942 Kaga tung ra các đợt không kích vào đảo Midway, rồi bị các máy bay Mỹ đặt căn cứ trên đảo và trên các tàu sân bay tấn công. Vào lúc 10 giờ 22 phút, những chiếc máy bay ném bom bổ nhào SBD Dauntless từ tàu sân bay Enterprise đánh trúng nó với ít nhất bốn quả bom 453,6 kg (1.000 lb), gây ra các vụ nổ và đám cháy trong số máy bay chất đầy bom và đổ đầy nhiên liệu trong sàn chứa máy bay. Thuyền trưởng Okada bị giết khi một quả bom đánh trúng cầu tàu. Đám cháy tỏ ra không thể kiểm soát được và lệnh bỏ tàu được đưa ra lúc vào khoảng 14 giờ.[4] Vào lúc 14 giờ 10 phút, chiếc tàu ngầm Mỹ Nautilus bắn trúng một ngư lôi vào chiếc Kaga, nhưng nó bị tịt ngòi và không phát nổ. Thủy thủ đoàn của chiếc Kaga được các khu trục hạm HagikazeMaikaze vớt lên, và cuối cùng lúc 19 giờ 25 phút nó bị đánh đắm bởi hai trái ngư lôi và chìm tại tọa độ 30°20′B 179°17′T / 30.333, -179.283.

Vào năm 1999, công ty Nauticos tìm thấy những mảnh vụn được xác định là của chiếc Kaga.

[sửa] Danh sách thuyền trưởng

[sửa] Tham khảo

  1. ^ Kaga, www.history.navy.mil
  2. ^ a b Ireland, Bernard (2007). Aircraft Carriers of the World. Southwater. 102-103. ISBN 9781844763634. 
  3. ^ Battle of Midway, www.history.navy.mil
  4. ^ Kaga, www.history.navy.mil

[sửa] Liên kết ngoài


Công cụ cá nhân
Không gian tên

Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra
Ngôn ngữ khác