Kaká

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Kaka')
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kaká
Kaká 2012.jpg
Kaká trong màu áo của Real Madrid trong trận đấu gặp CSKA Moscow vào tháng 2 năm 2012
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Ricardo Izecson dos Santos Leite
Ngày sinh 22 tháng 4, 1982 (31 tuổi)
Nơi sinh Brasília, Brasil
Chiều cao 1,86 m (6 ft 1 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ][1]
Vị trí Tiền vệ công / Tiền vệ cánh
Thông tin về CLB
CLB hiện nay A.C. Milan
Số áo 22
CLB trẻ
1994–2000 São Paulo
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
2001–2003 São Paulo 59 (23)
2003–2009 Milan 193 (70)
2009–2013 Real Madrid 85 (23)
2013– A.C. Milan 19 (6)
Đội tuyển quốc gia
2002– Brazil 82 (27)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 6 tháng 2 năm 2011.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 2 tháng 7 năm 2010

Ricardo Izecson dos Santos Leite (IPA: [hiˈkaɾdʊ iˈzɛksõⁿ dʊs‿ˈsɐ̃ⁿtʊs ˈleɪ̯t͡ʃɪ]; sinh ngày 22 tháng 4, 1982 tại Brasília), được biết đến nhiều nhất với tên Kaká, là một cầu thủ bóng đá người Brasil. Hiện anh đang chơi cho câu lạc bộ Italia A.C Milan và tuyển Brasil ở vị trí tiền vệ kiến thiết. Anh từng được trao danh hiệu Quả bóng vàng châu ÂuCầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA vào năm 2007. Năm 2008, anh được tạp chí Time ghi tên vào danh sách 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất thế giới.[2][3]

Kaká từng được xem là một trong những siêu sao hàng đầu thế giới, và là một tiền vệ kiến tạo mơ ước của bất kì đội bóng lớn nào. Anh có khả năng cầm bóng cực tốt, đi bóng lắt léo và chuyền bóng thông minh. Lối đá của anh vừa đẹp mắt ngẫu hứng, vừa hiệu quả. Kaká cũng rất mạnh trong những tình huống di chuyển và dứt điểm.

Thiếu niên[sửa | sửa mã nguồn]

Kaká là con trai của bà Simone Cristina dos Santos Leite, làm nghề giáo viên và ông Bosco Izecson Pereira Leite, một kỹ sư. Anh còn có một người em trai, Rodrigo (thường gọi Digão), đang chơi cho đội hình của Milan. Năm Kaka lên 7 tuổi, gia đình anh chuyển đến Sao Paulo.[4] Trường học đã chọn anh vào đội tuyển mang tên "Alphaville Tennis Club," mà sau đó đội bóng đã giành chức vô địch tại một giải trong khu vực và Kaka là cầu thủ xuất sắc nhất giải này.[5] Những thành công ban đầu đã khiến anh được São Paulo FC để mắt tới, sau đó họ gọi anh vào đội hình trẻ của câu lạc bộ.[6]

Năm 12 tuổi, Kaka cùng đội trẻ của Sao Paulo tham dự giải đấu Reebok Cup tại Mỹ và anh đoạt giải cầu thủ xuất sắc nhất. Tuy vậy, anh vẫn tiếp tục học ở Batista cho đến năm 14 tuổi, lúc đó anh là một tình nguyện viên trong nhà thờ Cambuci.

Năm 18 tuổi, một tai nạn không may khi đi bơi suýt chút nữa đã khiến Kaká phải giã từ bóng đá vì bị chấn thương cột sống có thể bị bại liệt. Nhưng sau đó anh đã bình phục hoàn toàn một cách khó tin. Anh cho rằng đó là nhờ ơn Chúa Trời, điều này cũng lý giải vì sao anh có một đức tin nhiệt thành đối với Chúa. Kaká cũng dâng một phần mười lợi tức của mình cho nhà thờ theo lời dạy của Kinh Thánh[7].

Sự nghiệp cấp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

São Paolo[sửa | sửa mã nguồn]

Kaká bắt đầu sự nghiệp cấp câu lạc bộ với São Paulo vào năm 9 tuổi. Anh ký tiếp một hợp đồng vào năm 15 tuổi và giúp tuyển trẻ này đoạt Copa de Juvenil.

Kaká khởi đầu sự nghiệp trưởng thành vào tháng 1 năm 2001 và ghi 12 bàn trong 27 lần xuất trận, góp phần giúp São Paulo giành chức vô địch Torneio Rio-São Paulo đầu tiên và duy nhất cho đến nay. Anh ghi 10 bàn trong 22 trận ở mùa sau đó, và khả năng của anh nhanh chóng thu hút sự chú ý từ các câu lạc bộ Châu Âu. Tổng cộng Kaká đã chơi 146 trận cho São Paulo và ghi 58 bàn.

AC Milan[sửa | sửa mã nguồn]

Kaká và Tổng thống Brasil Lula

A.C. Milan, CLB vừa giành chức vô địch Champions League năm 2003, đã mua anh với giá $8.5 triệu, một mức phí được chủ tịch câu lạc bộ Silvio Berlusconi coi là "nhỏ".[8] Anh hoà nhập rất nhanh với câu lạc bộ mới và thi đấu cho Milan trong 6 mùa giải. Trận đầu của Kaká tại Serie A là chiến thắng 2-0 của Milan trước A.C. Ancona. Anh đã ghi 10 bàn trong 30 trận thi đấu trong mùa giải đó, và Milan giành Scudetto cùng Siêu cúp Châu Âu. Kaká được chọn là một trong năm tiền vệ tiêu biểu trong mùa bóng 2004–05, thường chơi trong vai trò hộ công phía sau tiền đạo Andriy Shevchenko. Mùa giải 2004-2005 anh đã ghi 7 bàn trong 36 trận ở giải quốc nội cho Milan và đội bóng này đã về đích ở vị trí thứ hai sau Juventus. Dù Milan thua trong trận chung kết UEFA Champions League 2004-05 trước Liverpool F.C.loạt penalty, anh vẫn được chọn là tiền vệ xuất sắc nhất giải đấu, và đứng thứ 9 trong danh sách bầu chọn, với 19 phiếu, cho giải Quả bóng Vàng năm 2005.

Trong mùa giải 2005–06, Kaká lần đầu tiên lập hat-trick trong cả giải quốc nội và Châu Âu. Ngày 9 tháng 4 năm 2006, anh lập hat-trick vào lưới Chievo Verona. Cả ba bàn thắng đều diễn ra trong hiệp hai. Bảy tháng sau, anh lần đầu lập hat-trick ở Champions League trong chiến thắng 4–1 trước RSC Anderlecht. Làng bóng đá bắt đầu cho rằng anh sẽ trở thành một siêu sao. Sau khi Rui Costa chuyển sang Benfica ở cuối mùa giải, và dù nhiều fan hâm mộ Milan yêu cầu, Kaká vẫn không đổi số áo 22 đang mặc lấy áo số 10 của Rui Costa để lại, một số áo thường gắn liền với các tên tuổi hàng thế giới (cuối cùng số áo này được trao cho người đồng đội Clarence Seedorf).

Kaká trong màu áo Milan.

Sau khi Shevchenko chuyển sang Chelsea FC ở đầu mùa giải 2006–07, Kaká đã trở thành nhân tố quan trọng bậc nhất trên hàng công của Milan và anh thường thi đấu ở cả vị trí tiền vệ và tiền đạo. Anh trở thành chân sút ghi nhiều bàn nhất tại UEFA Champions League 2006-07 với 10 bàn thắng, đóng góp quan trọng vào thắng lợi của Milan trên mặt trận Châu Âu. Một trong số các bàn thắng của anh đã giúp Rossoneri đánh bại Celtic FC 1–0 trong hiệp phụ để Milan giành chiến thắng chung cuộc 1-0 sau hai lượt trận và ba bàn rất quan trọng khác trong chiến thắng chung cuộc 5-3 của Milan trước Manchester United trong hai trận bán kết dù Milan đã thua ở trận lượt đi. Sau trận thua 0-3 trên sân San Siro ngày 2 tháng 5 của nhà vô địch nước Anh, huấn luyện viên Manchester United, Alex Ferguson, đã tuyên bố rằng Kaká là 1 trong 2 cầu thủ xuất sắc nhất thế gới, cùng với học trò của ông là Cristiano Ronaldo.[9] Tuy nhiên tuyên bố này được cho là mang tính động viên đối với Cristiano Ronaldo bởi vào thời điểm đó khả năng cũng như phong độ của cầu thủ này chưa thể so sánh với Kaká. Tháng trước đó, một nhóm chuyên gia do tờ Gazzetta dello Sport của Italia lập ra đã tuyên bố rằng Kaká là cầu thủ hay nhất thế giới. Shevchenko cũng góp lời ca ngợi và cho rằng Kaká xứng đáng giành Quả bóng Vàng.[10]

Lần đầu tiên Kaká giành chức vô địch Champions League khi Milan đánh bại Liverpool F.C. 2–1 tại Athens ngày 23 tháng 5 năm 2007. Dù không ghi bàn thắng, anh đã giúp đội bóng có được một quả đá phạt dẫn tới bàn thắng đầu tiên của Filippo Inzaghi, và cũng góp công rất lớn ở bàn thắng thứ hai khi anh chuyền bóng thuận lợi để Pippo ghi bàn. Với màn trình diễn siêu hạng trong suốt mùa giải, anh đã được bầu là Cầu thủ được yêu mến nhất trong mùa giải với trong cuộc lấy ý kiến hơn 100.000 người truy cập trang UEFA.com được Vodafone tài trợ. Tháng 6 năm 2007, tờ Kicker của Đức gọi anh là cầu thủ hay nhất thế giới, Cristiano RonaldoRonaldinho về ở vị trí thứ hai và thứ ba, cùng lúc anh cũng được tờ The Times của Anh vinh danh. Ngày 30 tháng 8 năm 2007, Kaká được UEFA chọn đứng đầu danh sách cầu thủ tham gia Champions League 2006-07 và cả danh hiệu Cầu thủ của năm.[11]

Anh đã chơi trận thứ 200 trong màu áo Milan ở trận hoà 1-1 với Calcio Catania ngày 30 tháng 9 năm 2007, và vào ngày 5 tháng 10, anh được bầu làm Cầu thủ hay nhất thế giới của FIFPro mùa giải 2006-07.

Ngày 2 tháng 12 năm 2007, Kaká được nhận danh hiệu Quả bóng vàng Châu Âu, trở thành cầu thủ thứ tám của Milan giành danh hiệu này. Anh giành thắng lợi lớn với 444 phiếu, bỏ xa người thứ hai là Cristiano Ronaldo. Khi nhận danh hiệu tại Paris, anh đã phát biểu, "Đây là một năm tuyệt vời và danh hiệu Quả bóng Vàng đánh dấu một mùa giải 2007 đáng nhớ...Tôi muốn cảm ơn Chúa người đã đưa tôi tới đây ngày hôm nay. Và tôi cảm ơn vợ tôi, cha mẹ và Milan, đội bóng đã giúp tôi giành chiến thắng. Tôi cũng cảm ơn các đồng đội, cả ở Milan và đội tuyển Brasik, và tất cả những người hâm mộ."[12] Ngày 29 tháng 2 năm 2008, Kaká đồng ý kéo dài hợp đồng với Milan theo đó anh sẽ ở lại câu lạc bộ Italia này cho tới tận năm 2013.[13]

Vì những đóng góp của anh cả trong và ngoài sân cỏ, tờ Time đã đưa Kaká vào Time 100, danh sách 100 nhân vật có nhiều ảnh hưởng nhất trên thế giới ngày 2 tháng 5 năm 2008.[14]

Vào ngày 6 tháng 3 năm 2009, tờ Football Italia nói rằng chủ tịch mới được bầu của Real Madrid Florentino Pérez đã ra giá Kaká cho Milan với giá 68,5 triệu bảng Anh[15], hai ngày sau khi cầu thủ này rời khỏi câu lạc bộ để về đá cho đội tuyển quốc gia[16]. Phó chủ tịch Milan Adriano Galliani không phủ nhận thông tin này, và xác nhận rằng cha của Kaká đã đến Tây Ban Nha để gặp Pérez[17]. Vào ngày 4 tháng 6, Galliani nói với Gazzetta dello Sport rằng tiền bạc chính là lý do chính để ông ngồi lại nói chuyện với Pérez[18].

Real Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Kaka cùng với Real Madrid vào tháng 8 năm 2009.

Ngày 8 tháng 6, Kaká đã ký hợp đồng có thời hạn 6 năm với Real Madrid với giá chuyển nhượng không được tiết lộ nhưng được tin là khoảng 56 triệu bảng Anh[19] hoặc 68 triệu euro[20], đưa anh trở thành cầu thủ đầu tiên được Pérez mua về kể từ ông này được tái đắc cử làm chủ tịch đội bóng. Số tiền chuyển nhượng cũng tạo ra một kỷ lục về giá chuyển nhượng trên thế giới, phá kỷ lục cũ của Zinedine Zidane khi chuyển từ Juventus đến Madrid năm 2001[21]. Kaka thừa nhận động lực để chuyển đội bóng là giúp AC Milan vượt qua khó khăn tài chính, và Real Madrid là câu lạc bộ duy nhất mà anh có thể chuyển qua[21]. Anh cũng nói rằng anh đã được David Beckham, một cựu cầu thủ Real Madrid, khuyên nhủ trước khi quyết định chuyển nhượng[22]. Kaka có trận đấu đầu tiên cho câu lạc bộ mới vào ngày 7 tháng 8 năm 2009, trong trận giao hữu thắng 5–1 trước Toronto FC. Anh ghi bàn thắng đầu tiên trong trận đấu trước mùa giải gặp Borussia Dortmund vào ngày 19 tháng 8, 2009, trận đấu kết thúc với thắng lợi 5–0. Kaká sau đó có trận đấu đầu tiên tại La Liga vào ngày 29 tháng 8 trong trận thắng 3–2 trước Deportivo La Coruña.

Ngày 5 tháng 8 năm 2010, Real Madrid thông báo rằng Kaká đã phẫu thuật thành công chấn thương đầu gối trái và anh sẽ không xuất hiện trong bốn tháng trên sân cỏ.[23] Kaká trở lại tập luyện sau một thời gian dài và huấn luyện viên José Mourinho nói rằng việc Kaká trở lại như kí thêm một hợp đồng mới.

Trở lại AC Milan[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 2 tháng 9 năm 2013 Kaka được xác nhận là sẽ trở lại AC Milan từ Real Madrid, sau khi đồng ý các điều khoản trong hợp đồng. Hợp đồng có thời hạn 2 năm với mức lương là 4 triệu euro/mùa. Ở Milan anh sẽ là đội trưởng . Anh làm đội trưởng của Milan trong trận đấu đầu tiên, lấy từ Marco Amelia trong một trận đấu với FC Chiasso.

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Kaká trong màu áo tuyển quốc gia

Kaká khởi đầu sự nghiệp quốc tế tại tuyển Brasil vào tháng 2 năm 2002 trong trận đấu với Bolivia. Anh là một thành viên của tuyển Brasil vô địch World Cup 2002, nhưng chỉ chơi được 25 phút cả giải[24], trong trận đấu không mang ý nghĩa quan trọng với Costa Rica.

Vào năm 2003, Kaká là đội trưởng của tuyển tham dự Gold Cup, nơi Brazil kết thúc giải ở vị trí thứ 2, và Kaká là cầu thủ xuất sắc thứ 2 của giải với 3 bàn thắng. Sau đó anh thường xuyên có mặt trong đội hình chính. Vào 29 tháng 6 năm 2005, anh ghi 1 bàn trong trận mà đội tuyển vàng xanh đả bại Argentina 4-1 tại chung kết Confederations Cup 2005. Bàn thắng được ghi từ 1 cú sút mạnh vào góc cao bên tay phải khung thành. Năm đó, anh về vị trí thứ 10 trong cuộc bầu chọn cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA.

Kaká là 1 trong những niềm hy vọng của Brasil tại World Cup 2006. Anh đã ghi bàn thắng đầu tiên cho mình tại World Cup và bàn thắng đầu tiên cho Brasil tại giải này, trong trận thắng Croatia 1-0. Anh được chọn làm "cầu thủ của trận đấu". Anh không giữ phong độ cao trong những trận đấu tiếp theo của mùa giải, và Brasil cũng dừng lại ở tứ kết với trận thua Pháp. Vào ngày 3 tháng 12 năm 2006, anh ghi 1 bàn ấn tượng cho tuyển quốc gia, sau khi có bóng từ pha phạt góc hỏng của tuyển Argentina, anh dốc bóng tốc độ sang phần sân đội bạn và sút vào lưới.

Ngày 12 tháng 5, 2007, sau 1 thời gian tập trung sức lực cho Serie A và Champions League, Kaká đã xin phép không tham dự Copa América: "...đã 3 mùa giải liên tiếp, tôi không được nghỉ ngơi chút nào... Tôi chính thức kiến nghị CBF để tôi ngoài danh sách tuyển thủ dự Copa America sắp tới.[25] Huấn luyện viên Brasil, ông Dunga không hài lòng, ông tôn trọng ý định đó và cho anh như nguyện, song nhấn mạnh là nếu cứ như thế anh sẽ mất chỗ trong tuyển quốc gia. Kaka sau đó vẫn được đá 70 phút trong trận giao hữu với Anh, mà Brasil đã hòa với tỉ số 1–1 (ngày 1 tháng 6). Anh chỉ được chơi 30 phút trong trận hòa không bàn thắng với Thổ vào ngày 5 tháng 6.[26]

Ngày 27/10/2011, anh đã được triệu tập lại đội tuyển quốc gia.

FIFA World Cup 2010[sửa | sửa mã nguồn]

World Cup 2010, Kakániềm hi vọng số 1 của Seleção ở hàng tiền vệ. Anh đều có tên trong đội hình xuất phát 2 trận đầu tiên tại vòng bảng:

  • Trận thứ nhất: Brazil 2-1 Bắc Triều Tiên. Anh thi đấu tròn vai nhưng chưa đáp ứng được kì vọng của nhiều người và bị thay ra phút 88 cho tiền vệ Ramires vào.
  • Trận thứ hai: Brazil 3-1 Bờ Biển Ngà. Về mặt chuyên môn, Kaká thi đấu ấn tượng khi hoàn thành vai trò khuấy đảo hàng phòng ngự đối phương và kiến tạo 2 đường chuyền thành bàn cho Luis FabianoElano lập công. Nhưng phút 83, anh phải nhận thẻ vàng thứ Hai trong trận, đồng nghĩa phải rời sân và bị treo giò 2 trận. Đáng lưu ý là thẻ vàng thứ nhất cách đó chỉ 4 phút, Kaká đã liên tiếp không thể kiềm chế trước lối chơi áp sát thô bạo và tiểu xảo của các cầu thủ đội Bờ Biển Ngà.

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Kaká và vợ, Caroline Celico
Giày của Kaká với dòng chữ Jesus in first place

Là một tín hữu Cơ Đốc nhiệt thành theo trào lưu Tin Lành, Kaká đã chấp nhận niềm tin tôn giáo từ năm 12 tuổi: "Tôi đã học biết rằng chính đức tin quyết định liệu một điều sẽ xảy ra hay không." Anh thường lật áo thi đấu để lộ chiếc áo trong có dòng chữ "I Belong to Jesus" (Tôi thuộc về Chúa Giê-xu) khi ghi bàn, và đã quỳ xuống cầu nguyện ngay trên sân sau trận chung kết thắng lợi của Milan tại Champions League mùa giải 2007. Kaká trước đó cũng đã để lộ chiếc áo này trong lễ mừng Scudetto mùa giải 2004 của Milan và sau khi đội tuyển Brazil đánh bại Đức trong trận chung kết World Cup 2002, cũng dòng chữ đó cùng với câu "God Is Faithful" (Chúa là Đấng Thành tín) trên vành giày của anh.[27] Trong lễ mừng sau trận thắng 4-1 của Brasil trước Argentina tại trận chung kết Cúp các Liên đoàn của FIFA 2005, anh và nhiều đồng đội, có cả thủ môn Gomes và hậu vệ Lúcio, đã mặc những chiếc áo phông có dòng chữ "Jesus Loves You" (Chúa Giê-xu Yêu Bạn) bằng nhiều ngôn ngữ.

Kaká là thành viên của tổ chức Atletas de Cristo ("Các Vận động viên của Chúa Giê-xu").[28] Anh thường ăn mừng bàn thắng bằng cách chỉ lên bầu trời như một dấu hiệu gửi lời tạ ơn tới Chúa. Âm nhạc Kaká yêu thích là nhạc Phúc âm,[29] quyển sách gối đầu giường của anh là Kinh Thánh.[30] Từ tháng 11 năm 2004, anh phục vụ trong cương vị Đại sứ Chống nạn Đói cho Chương trình Lương thực Thế giới của Liên Hiệp Quốc, người trẻ nhất ở vị trí danh dự này cho tới thời điểm anh được chỉ định.

Anh kết hôn với cô bạn gái từ thủa nhỏ, Caroline Celico. Hôn lễ cử hành ngày 23 tháng 12 năm 2005 tại Nhà thờ Tin Lành Reborn in Christ ở São Paulo, Brazil. Con trai đầu lòng của họ, Luca Celico Leite, ra đời tại São Paulo ngày 10 tháng 6 năm 2008.[31]

Bày tỏ quan điểm của mình về hôn nhân, Kaká tự hào rằng mình vẫn luôn chung thủy cho tới ngày cưới; trả lời phỏng vấn tờ Vanity Fair, Kaká hãnh diện cho biết: “Tôi và Caroline quyết định giữ cho nhau đến ngày đám cưới. Kinh Thánh dạy rằng đó chính mới là tình yêu đích thực. Sự thật là chúng tôi đã có đêm tân hôn thực sự có ý nghĩa”.[32]

Kaká đã tuyên thệ để trở thành công dân Italia ngày 12 tháng 2 năm 2007.[33] Anh chủ yếu chỉ nhận quảng cáo cho Adidas, và cũng có một hợp đồng làm người mẫu với Armani, nhưng hợp đồng này khiến anh không thể xuất hiện cùng với các đồng đội tại Milan, trong bộ ảnh được Dolce & Gabbana xuất bản đầu năm 2007.

Tên thân mật[sửa | sửa mã nguồn]

Tên hiệu của anh được phát âm theo kiểu nhấn ở âm tiết thứ hai. Đây là kiểu gọi tên thân mật thông thường cho "Ricardo" tại Brasil. Tuy nhiên, trong trường hợp của Kaká, nó do người em Rodrigo, thường được gọi là Digão, đặt ra, gọi anh là "Caca" vì không thể phát âm được chữ "Ricardo" khi họ còn nhỏ; và cuối cùng nó trở thành Kaká.[27] Anh thỉnh thoảng cũng được truyền thông Châu Âu gọi là "Ricky Kaká".

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Cập nhật cho đến ngày 31 tháng 5 năm 2009.[34]

Câu lạc bộ Mùa Nội địa
Giải
Nội địa
Cúp
Lục địa
Trận1
Khác
giải đấu2
Tổng
Tham gia Bàn thắng Tham gia Bàn thắng Tham gia Bàn thắng Tham gia Bàn thắng Tham gia Bàn thắng
São Paulo FC 2001 27 12 1 2 5 0 - - 33 75
2002 22 9 - - - - - - 22 85
2003 10 2 10 5 - - - - 20 76
Tổng 59 23 11 7 5 0 - - 75 30
A.C. Milan 2003-04 30 10 4 0 10 4 1 0 45 500
2004-05 36 7 1 0 13 2 1 0 51 400
2005-06 35 14 2 0 12 5 - - 47 600
2006-07 31 8 2 0 15 10 - - 48 45
2007-08 30 15 - - 9 3 2 1 41 90
2008-09 31 16 1 0 4 0 - - 36 16
Tổng 193 70 10 0 63 24 4 1 270 95
Real Madrid 2009-10 - - - - - - - - - -
Tổng - - - - - - - - - -
Tổng sự nghiệp 252 93 21 7 68 24 4 1 845 2015

1Các trận Lục địa gồm Copa Libertadores, UEFA Champions LeagueSiêu cúp bóng đá châu Âu
2Các giải khác gồm Siêu cúp bóng đá Ý, Cúp bóng đá liên lục địaGiải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ

Bàn thắng[sửa | sửa mã nguồn]

#Bàn thắng Thời gian Địa điểm Đối thủ Tỉ số Kết quả Giải đấu
1 7 tháng 3, 2002 Cuiabá, Brasil Flag of Iceland.svg Iceland 6–1 Thắng Giao hữu quốc tế
2 19 tháng 7, 2003 Orange Bowl, Hoa Kỳ Flag of Colombia.svg Colombia 2–0 Thắng Cúp bóng đá Bắc, Trung Mỹ và Caribe
1 23 tháng 7, 2003 Orange Bowl, Hoa Kỳ Flag of the United States.svg Hoa Kỳ 2–1 Thắng Cúp bóng đá Bắc, Trung Mỹ và Caribe
1 7 tháng 9, 2003 Barranquilla, Colombia Flag of Colombia.svg Colombia 1–2 Thắng Vòng loại World Cup 2006
1 11 tháng 10, 2003 Curitiba, Brasil  Uruguay 3–3 Hoà Vòng loại World Cup 2006
1 28 tháng 4, 2004 Budapest, Hungary Flag of Hungary.svg Hungary 1–4 Thắng Giao hữu quốc tế
2 10 tháng 10, 2004 Maracaibo, Venezuela Flag of Venezuela.svg Venezuela 2–5 Thắng Vòng loại World Cup 2006
1 27 tháng 3, 2005 Goiânia, Brasil Flag of Peru.svg Peru 1–0 Thắng Vòng loại World Cup 2006
1 29 tháng 6, 2005 Frankfurt, Đức  Argentina 4–1 Thắng Cúp Liên đoàn các châu lục 2005
1 10 tháng 11, 2005 Abu Dhabi, Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất  UAE 0–8 Thắng Giao hữu quốc tế
1 4 tháng 6, 2006 Geneva, Thuỵ Sĩ  New Zealand 4–0 Thắng Giao hữu quốc tế
1 13 tháng 6, 2006 Berlin, Đức  Croatia 1–0 Thắng World Cup 2006
1 3 tháng 9, 2006 Luân Đôn, Anh  Argentina 3–0 Thắng Giao hữu quốc tế
1 10 tháng 10, 2006 Stockholm, Thuỵ Điển  Ecuador 2–1 Thắng Giao hữu quốc tế
1 15 tháng 11, 2006 Basel, Thuỵ Sĩ  Thụy Sĩ 1–2 Thắng Giao hữu quốc tế
1 24 tháng 3, 2007 Göteborg, Thuỵ Điển  Chile 4–0 Thắng Giao hữu quốc tế
1 12 tháng 9, 2007 Foxborough, USA  México 3–1 Thắng Giao hữu quốc tế
2 17 tháng 10, 2007 Rio de Janeiro, Brasil  Ecuador 5–0 Thắng Vòng loại World Cup 2010 khu vực Nam Mỹ
1 18 tháng 11, 2007 Lima, Peru  Peru 1–1 Hoà Vòng loại World Cup 2010 khu vực Nam Mỹ

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Tại câu lạc bộ và đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Á quân[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Quadro de Medalhas announcement”. Real Madrid. 25 tháng 3 năm 2012. 
  2. ^ Kaka - Times 100, Ac Milan, 2 tháng 5 năm 2008, truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2008 
  3. ^ Kaká - The 2008 TIME 100, Time Magazine, 29 tháng 4 năm 2008, truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2008 
  4. ^ FIFA Classic Football
  5. ^ Kaka Biography (Portuguese)
  6. ^ Biography - fantasticoakaka.it (Italian)
  7. ^ “Kaka able to see beyond dollar signs” (bằng tiếng Anh). United Nations. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2004. 
  8. ^ “Kaka: My +10 team” (bằng tiếng Anh). FIFAworldcup.com. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2006. 
  9. ^ Kaka The Best, Kaká-Best in world
  10. ^ Kaka The Best, Deserves Golden Ball - Shevchenko
  11. ^ Kaka named UEFA's European club player of the year - Reuters Africa, 8/31/07
  12. ^ “Ballon d'Or: Kaka crowned”. Football Italia. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2007. 
  13. ^ Burton, Chris (29 tháng 2 năm 2008), Kaka will not leave Milan, Sky Sports, truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2008 
  14. ^ Kasey, Keller. “Kaká - The 2008 Time 100”. Time. 
  15. ^ “KAKA FOR SALE”. Football Italia. 3 tháng 6 năm 2009. 
  16. ^ “Kaka will leave”. Football Italia. 1 tháng 6 năm 2009. 
  17. ^ “Galliani: We have to sell Kaka”. Football Italia. 3 tháng 6 năm 2009. 
  18. ^ [http:// www.channel4.com/sport/football_italia/jun04a.htmlI “Galliani: We have to sell Kaka”]. Football Italia. 3 tháng 6 năm 2009. 
  19. ^ “Kaka completes switch to Madrid”. BBC. 9 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009. 
  20. ^ “Kaka leaving Milan on good terms”. Reuters. 9 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009. 
  21. ^ a ă Kaka completes switch to Madrid. BBC Sport (2009-06-08). Truy cập 2009-06-09.
  22. ^ “Fresh challenge excites Kaka”. Sky Sports. 9 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009. 
  23. ^ Real Madrid chấp nhận mất Kaka trong vài tháng BóngĐá24h
  24. ^ http://www.kakafans.net/kakablog.php
  25. ^ [1] - Kaka kể khổ để được miễn nghĩa vụ quốc gia, 14/5/07
  26. ^ Brazil plays Turkey to 0-0 draw - foxsoccer.com, 6/5/07
  27. ^ a ă Mitten, Andy. “The golden boy of a golden team” (bằng tiếng Anh). The Independent. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2006. 
  28. ^ “Interview” (bằng tiếng Anh). Atletas de Cristo. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2006. 
  29. ^ “Public Chat Session” (bằng tiếng Anh). RickyKaka.com. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2006. 
  30. ^ Milan put their faith in Kaka - The Telegraph, 5/2/07
  31. ^ “RICKY AND CAROLINE, CONGRATULATIONS!” (bằng tiếng Anh). AC Milan. 10 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2008. 
  32. ^ Kaka - ông Thánh cuối cùng?
  33. ^ Brazilian Kaká gets Italian citizenship - People's Daily Online, 2/13/07
  34. ^ http://www.acmilan.com/LM_Actor.aspx?idSquadra=3&idStagione=14&idPersona=53&name=Kaká
Tiền nhiệm:
Flag of Italy.svg Fabio Cannavaro
Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA
2007
Kế nhiệm:
Flag of Portugal.svg Cristiano Ronaldo
Tiền nhiệm:
Flag of Italy.svg Fabio Cannavaro
Quả bóng vàng châu Âu
2007
Kế nhiệm:
Flag of Portugal.svg Cristiano Ronaldo

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]