Kanon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sản phẩm của Key Kanon
Kanon original game cover.gif
Bìa visual novel đầu tiên của Kanon.
カノン
Thể loại Drama, Fantasy, Harem, Romance
Bản quyền © Cờ của Nhật Bản Key/Visual Art's
Trò chơi
Kanon Logo.svg
Biểu trưng visual novel Kanon.
Phát triển Cờ của Nhật Bản Key
Phát hành Visual Art's (PC)
Interchannel (DC/PS2)
Prototype (PSP/FOMA/S3G)
Kịch bản Maeda Jun, Hisaya Naoki
Thiết kế Hinoue Itaru, Din, Miracle Mikipon, Shinory, Torino
Âm nhạc OdiakeS, Orito Shinji
Thể loại Eroge, Visual novel
Phân hạng EOCS: 18+ (bản gốc trên PC)
  • CERO: A (DC), B (PS2/PSP)
Hệ máy PC, DC, PS2, PSP, FOMA, S3G
Phát hành 4 tháng 6, 1999 (bản gốc trên PC)
Light novel
Tác giả Shimizu Mariko
Minh họa Hinoue Itaru
Nhà xuất bản Cờ của Nhật Bản Paradigm
Phát hành Tháng 12, 1999Tháng 8, 2000
Số tập 5
Manga
Tác giả Key
Minh họa Morishima Petit
Nhà xuất bản Cờ của Nhật Bản MediaWorks
Đối tượng Shōnen
Tạp chí Dengeki Daioh
Phát hành Tháng 12, 2000Tháng 7, 2002
Số tập 2
TV anime
Đạo diễn Itō Takamichi
Sản xuất Kawakami Daisuke, Yokota Mamoru
Kịch bản Key
Thiết kế nhân vật Hinoue Itaru, Ohnishi Youichi
Âm nhạc Kouzu Hiroyuki
Hãng phim Cờ của Nhật Bản Toei Animation
Kênh Cờ của Nhật Bản Fuji TV, Kansai TV
Phát sóng 31 tháng 1, 200228 tháng 3, 2002
Thời lượng / tập 23 phút
Số tập 13 (danh sách tập)
OVA
Kanon Kazahana
Đạo diễn Itō Takamichi
Kịch bản Key
Thiết kế nhân vật Hinoue Itaru, Ohnishi Youichi
Âm nhạc Kouzu Hiroyuki
Hãng phim Cờ của Nhật Bản Toei Animation
Phát hành Tháng 3, 2003
Thời lượng / tập 20 phút
Manga
Kanon: The Real Feelings of the Other Side of the Smiling Face
Tác giả Key
Minh họa Shimotsuki Kinusa
Nhà xuất bản Cờ của Nhật Bản Fujimi Shobo
Đối tượng Shōnen
Tạp chí Dragon Age Pure
Phát hành 29 tháng 6, 200620 tháng 10, 2007
Số tập 2
TV anime
Đạo diễn Ishihara Tatsuya
Sản xuất Futono Naohiro, Nakamura Shinichi, Hatta Yoko, Nakayama Yoshihisa
Kịch bản Key, Shimo Fumihiko
Thiết kế nhân vật Hinoue Itaru, Ikeda Kazumi
Âm nhạc Maeda Jun, OdiakeS, Orito Shinji
Hãng phim Cờ của Nhật Bản Kyoto Animation
Cấp phép Cờ của Úc Cờ của New Zealand Madman Entertainment
Cờ của Canada Flag of the United States ADV Films, Funimation Entertainment
Quốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc Proware Multimedia International
Kênh Cờ của Nhật Bản BS-i
Phát sóng 5 tháng 10, 200615 tháng 3, 2007
Thời lượng / tập 24 phút
Số tập 24 (danh sách tập)
Tác phẩm liên quan
Biểu tượng chủ đề Chủ đề Anime và Manga

Kanon (カノン?) là một visual novel do hãng phần mềm Key phát triển; công ty này cũng cho ra đời hai sản phẩm nổi tiếng khác là AIRCLANNAD. Nguyên gốc của tác phẩm là một trò chơi dành cho người lớn phát hành vào ngày 4 tháng 6 năm 1999 trên hệ điều hành Microsoft Windows của PC. Phiên bản dành cho mọi lứa tuổi trên PC phát hành vào tháng 1 năm 2000, sau đó được chuyển sang các hệ máy Dreamcast, PlayStation 2PlayStation Portable. Bản Kanon Standard Edition trên hệ PC dành cho người lớn phát hành vào tháng 11 năm 2004; và bản dành cho mọi lứa tuổi phát hành vào tháng 1 năm 2005. Cả hai phiên bản Standard Edition này đều được ra mắt dưới dạng DVD-ROM và có chứa nhiều hình ảnh dành cho mọi lứa tuổi hơn các phiên bản trước đó, hỗ trợ khả năng tương thích với hệ điều hành Windows 2000/XP, và cải tiến kĩ thuật như tăng thêm ngăn lưu trữ. Kanon có cách chơi theo lối tuyến tính, tuy chỉ đi theo cốt truyện định sẵn nhưng người chơi có thể tương tác để tạo ra các kết thúc khác nhau. Cốt truyện chủ yếu đi sâu vào nội tâm của năm nhân vật nữ chính.

Kanon cũng được chuyển thể thành light novel, drama CD cùng hai loạt animemanga. Sê-ri anime đầu tiên dài 13 tập, phát sóng tại Nhật Bản từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2002; loạt phim này còn kèm theo một tập OVAKazahana, phát hành vào tháng 3 năm 2003. Cả anime lẫn OVA đều được Toei Animation sản xuất. Phiên bản anime thứ hai dài 24 tập, thực hiện bởi Kyoto Animation và phát sóng tại Nhật Bản từ tháng 10 năm 2006 đến tháng 3 năm 2007. Anime này ban đầu được ADV Films cấp phép phân phối tại Bắc Mỹ, nhưng sau đó bản quyền đã được chuyển nhượng sang cho Funimation vào tháng 7 năm 2008 và phát hành bằng tiếng Anh. Bộ anime thứ hai là sự kết hợp giữa Kanondòng nhạc canon khi sử dụng các bản nhạc Kanon in D-dur, hay Canon cung Rê trưởng, của Pachelbel, làm nhạc nền trong một số cảnh của tác phẩm.

Theo thống kê của Dengeki G's Magazine về tốp 50 tựa bishōjo game hay nhất đăng trong tháng 10 năm 2007, Kanon đã xếp thứ năm với 71 phiếu bầu trong tổng số 249 tựa game được đề cử. Theo bảng xếp hạng doanh số bishōjo game cấp quốc gia của Nhật Bản, bản gốc của Kanon trên nền PC đã đứng hạng nhì khi mới phát hành. Trong bảng xếp hạng ba năm sau đó, nó xếp hạng thứ 45 vào tháng 6 năm 2002 rồi rơi xuống thứ 46 trong hai tuần kế tiếp. Kanon đã bán thành công hơn 300.000 bản trên các hệ máy, chưa tính đến phiên bản PSP.

Ngay từ lần đầu tiên phát hành, visual novel Kanon đã nhận được nhiều ý kiến đánh giá khác nhau của những nhà bình luận, có cả khen ngợi lẫn phê bình trong tất cả các loại hình truyền thông được chuyển thể thành. Giống như hai chị em của tác phẩm là AIRCLANNAD, Kanon được đánh giá là một siêu phẩm nhờ xây dựng nên một cốt truyện rất chi tiết và có nội dung sâu sắc. Đồng hành cùng trò chơi là khái niệm "crying game", tiền thân của thể loại Nakigē (泣きゲー?), được xem như là một hướng đi mới trong việc thực hiện cốt truyện của các visual novel đời sau. Sự thành công của Kanon là nguồn động lực để các nhân viên của Key tự tin hơn khi thực hiện các tác phẩm tiếp theo, cũng như đã giúp công ty này trở nên nổi tiếng trong thị trường bishōjo game Nhật Bản đầy biến động lúc bấy giờ.

Cách chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Một đoạn hội thoại thường gặp giữa người chơi và nhân vật Ayu trong visual novel Kanon.

Cách chơi của Kanon chỉ đòi hỏi người chơi tương tác ở một vài đoạn, phần lớn thời gian còn lại là đọc những dòng chữ xuất hiện trên màn hình, thường mô tả đoạn đối thoại giữa các nhân vật khác nhau xen lẫn suy nghĩ nội tâm của nhân vật chính. Một yếu tố quan trọng có trong Kanon (cũng như hầu hết các visual novel khác) đó là người chơi chỉ có thể tương tác khi "điểm quyết định" xuất hiện và sẽ có vài lựa chọn được đưa ra. Các "điểm quyết định" này thường thay đổi và hiện ra không đều đặn, có thể cách nhau ít phút hoặc lâu hơn. Trong khi người chơi đang phân vân giữa các lựa chọn, visual novel sẽ dừng lại chờ cho đến khi họ đưa ra quyết định, sau đó cốt truyện sẽ tiến triển theo một hướng nhất định[1][2].

Sẽ có năm kịch bản chính tạo điều kiện cho người chơi trải nghiệm, tương ứng với năm nhân vật nữ chính. Đồng nghĩa với việc mỗi kịch bản đòi hỏi người chơi phải chơi lại nhiều lần, mỗi lần lại chọn những hướng khác nhau để đạt được những kết thúc tương ứng, từ đó mới nắm bắt được nội dung của toàn bộ visual novel[1]. Maeda Jun, người viết kịch bản cho Kanon, tiết lộ vào tháng 3 năm 2001, rằng người Nhật tưởng Key chuyên làm trò chơi nhẹ dịu vì hiệu ứng của tác phẩm, nhưng ông cũng khẳng định rằng chẳng ai trong nhóm sản xuất từng nghĩ sẽ như thế[3].

Phiên bản đầu tiên của Kanon cho phép người chơi nhìn thấy những cảnh người lớn, thể hiện nhân vật Yuichi và một trong năm nhân vật nữ chính đang quan hệ tình dục[1][4]. Sau này Key đã phát hành hai phiên bản của Kanon không chứa bất kỳ những hình ảnh kích thích nào và dành cho mọi lứa tuổi[4]. Những phiên bản có cảnh sex thể hiện một đoạn tình dục rõ ràng trong mỗi mạch truyện, vào thời điểm sau khi đã qua 50-75% thời gian của mỗi mạch, trừ một cảnh tưởng tượng[1]. Ngoài ra, chỉ có hai tấm hình khỏa thân cùng sử dụng một CG[1]. Suzumoto Yūichi, người viết kịch bản tham gia vào Key sau này, phát biểu rằng các cảnh "nóng bỏng" trong Kanon mang ý nghĩa rất hạn hẹp, chúng có thể dễ dàng tháo ra mà không ảnh hưởng đến kịch bản[3]. Maeda cũng từng được hỏi là ông nghĩ gì nếu các cảnh sex được vẽ nhằm mục đích kích thích bản năng tự nhiên của con người, nhưng Maeda đã nói rằng nó chẳng thể nào xảy ra trong các trò chơi như Kanon hay AIR[3].

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu ý: Phần sau đây có thể cho bạn biết trước nội dung của tác phẩm.

Chủ đề và thiết lập[sửa | sửa mã nguồn]

Có một số địa điểm quan trọng thường xuất hiện trong Kanon, nhưng tên của chúng thường ít khi được đề cập rõ ràng trong tác phẩm. Thời điểm câu chuyện xảy ra là vào mùa đông, chính vì thế tuyết luôn xuất hiện trong hầu hết các màn chơi, phong cảnh thành phố luôn bao phủ bởi một lớp tuyết trắng. Khu mua sắm là địa điểm xuất hiện nhiều nhất trong cốt truyện mỗi khi các nhân vật đi vào thành phố, và đặc biệt là mỗi khi có sự hiện diện của nhân vật Ayu trong phần đầu câu chuyện. Trường trung học là nơi mà Yuichi và các nhân vật chính khác cùng góp mặt, bao gồm cả sân trường, là địa điểm chính trong câu chuyện của Shiori và Mai, cũng là địa điểm chung nơi Yuichi tương tác với các nhân vật khác[1].

Có nhiều chủ đề khác nhau được đề cập xuyên suốt cốt truyện của Kanon. Âm nhạc là một trong số đó, điển hình là tựa của các tập anime phát sóng năm 2006–2007 có dùng các từ về thể loại nhạc như Overture (khúc dạo đầu) hay Introit (thánh ca). Những điều kỳ diệu cũng đóng vai trò chính trong suốt tác phẩm, cốt truyện và các nhân vật trong Kanon cũng bị tác động ít nhiều theo những cách khác nhau mỗi khi phép lạ xảy ra[5]. Sự "hứa hẹn" và "giữ lời hứa" có thể quan sát thấy trong tác phẩm[6]. Cuối cùng Yuichi đã đưa ra những lời hứa quan trọng với cả năm nhân vật nữ chính, và cùng thời điểm đó thực hiện những lời hứa trong quá khứ của anh với bốn người còn lại khi anh đến thành phố chơi ngày còn bé[1].

Một trong những motif xuyên suốt của Kanon là hiện tượng mất trí nhớ. Ba nhân vật chính là Yuichi, Ayu và Makoto bị ảnh hưởng bởi việc mất trí nhớ theo nhiều cách khác nhau, chủ đề này được sử dụng để có thể phát triển tình tiết của câu chuyện[1]. Một đề tài phụ khác là mối liên quan đến các món ăn ưa thích của năm nhân vật nữ chính, Newtype USA có đoạn bình luận về Kanon rằng: "Mỗi khi các nhân vật chính ăn thứ gì thực sự ngon thì họ trông vô cùng dễ thương và sống động", mặc dù thiết lập và giai điệu ảm đạm đã che phủ toàn bộ visual novel[7]. Năm món ăn ưa thích của năm nhân vật nữ chính là: taiyaki (Ayu), dâu tây (Nayuki), nikuman (Makoto), kem (Shiori) và gyūdon (Mai)[1].

Nhân vật chính[sửa | sửa mã nguồn]

Theo chiều kim đồng hồ từ hình trên cùng bên trái xuống dưới: Mai, Nayuki, Shiori, Ayu và Makoto - 5 nhân vật nữ chính của visual novel.

Người chơi sẽ vào vai Aizawa Yuichi, nhân vật chính của Kanon. Anh là một học sinh trung học khoảng 17 tuổi có óc hài hước, thích trêu chọc các cô gái cùng tuổi mà anh quen biết và tương tác với họ theo kịch bản. Mặc dù vậy, Yuichi rất tốt bụng với bạn bè và sẵn sàng làm mọi thứ kể cả phải bỏ thời gian và tiền bạc của mình để giúp đỡ bất cứ ai xung quanh. Anh khá rộng lượng và không đòi hỏi trả công từ những người từng được mình giúp. Tsukimiya Ayu, một trong những nhân vật nữ chính của Kanon, là một cô gái có chiều cao khiêm tốn, kỳ lạ và bí ẩn, có thể dễ dàng nhận ra cô ngay vì chiếc cặp có đôi cánh đeo sau lưng cùng chiếc xước tóc màu đỏ; và khi nói về chính mình thường đệm thêm đại từ nhân xưng boku (?), vốn chỉ dùng cho nam giới. Ayu thường xuất hiện trong visual novel khi đang ăn taiyaki, cô luôn lẩm nhẩm từ "ugū" (うぐぅ?) mỗi khi có các cảm xúc kích động khác nhau như thất vọng, đau đớn và sợ hãi. Em họ của Yuichi là Minase Nayuki, cũng là một nhân vật nữ chính, đã có tình cảm với anh ngay từ khi còn bé và đang phải cố gắng học cách đối mặt với tình cảm của mình, đặc biệt là khi Yuichi có nguy cơ yêu một cô gái khác. Nayuki nói chậm hơn so với những người xung quanh và luôn gặp khó khăn khi cố thức dậy vào buổi sáng, trừ một vài dịp còn dậy sớm hơn cả Yuichi khi đang có tâm sự[1].

Nhân vật nữ chính thứ ba của Kanon, Sawatari Makoto, người đã bắt chuyện với Yuichi vài ngày sau khi anh đến thành phố, là một cô gái bị mất trí nhớ nhưng lại tin chắc rằng mình đã có mối thù với Yuichi từ lần cuối anh về thăm nơi đây. Makoto rất tinh nghịch và luôn tìm cách chơi khăm Yuichi; tương tự như Ayu, từ cửa miệng mỗi khi gặp chuyện khó xử hay bối rối của Makoto là "aū" (あうぅ?). Cô yêu mùa xuân và từng ước muốn nó kéo dài mãi mãi[8]. Yuichi tình cờ làm quen với Misaka Shiori, một nhân vật nữ chính khác, là một học sinh trung học năm thứ nhất luôn bị dằn vặt bởi một căn bệnh lạ từ khi cô sinh ra. Diễn biến căn bệnh khiến cho thể chất của cô ngày càng yếu đi; cô hầu như luôn vắng mặt ở trường cũng chính vì nó. Shiori luôn cố gắng trở nên mạnh mẽ để có thể đối mặt với bệnh trạng và kết bạn với mọi người, dù không quen biết hầu hết bạn bè cùng tuổi. Nhân vật nữ chính cuối cùng của KanonKawasumi Mai, một học sinh trung học năm thứ ba cùng trường với Yuichi. Cô có thái độ lạnh nhạt với hầu hết mọi người xung quanh, nhưng trên thực tế bên trong cô là người rất tình cảm và luôn quan tâm chăm sóc người khác; Mai sẽ "trừng phạt" bất cứ ai dám trêu cô bằng một đòn đánh karate chớp nhoáng thẳng vào đầu[1].

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Cốt truyện của Kanon xoay quanh năm cô gái mà cuộc sống của họ có mối liên hệ với cùng một chàng trai. Aizawa Yuichi là học sinh trung học năm thứ hai, anh đã từng lên thành phố chơi khi còn bé, nơi mà cốt truyện của Kanon lấy bối cảnh bảy năm sau đó. Câu chuyện bắt đầu vào thứ Tư, ngày 6 tháng 1 năm 1999[1] khi Yuichi trở lại thành phố và vẫn còn bỡ ngỡ với quang cảnh và dân cư ở đây. Trước khi đến đây anh đã quyết định sẽ trọ ở nhà cô em họ của mình là Minase Nayuki, cùng mẹ cô bé là Akiko. Sau một thời gian dài, Yuichi đã quên hầu như mọi thứ về thành phố mà mình từng ghé thăm và cần được gợi nhớ lại những gì mà anh để lại phía sau khi rời khỏi đó. Nayuki ban đầu cố gắng nhiều lần để phục hồi lại trí nhớ của Yuichi nhưng không thành công. Trong suốt câu chuyện, Yuichi đã nhận ra có rất nhiều thế lực siêu nhiên cùng ở trong thành phố và chúng đã giúp anh phục hồi kí ức về mọi việc xảy ra trong bảy năm trước.

Vào ngày Yuichi vừa trở về thành phố, Nayuki đã dẫn anh đi tham quan xung quanh. Nayuki chợt nhớ rằng mình cần mua vài thứ để chuẩn bị cho bữa tối, nhưng Yuichi không muốn đi vào khu mua sắm vì anh sợ bị lạc. Đúng lúc Yuichi đang chờ Nayuki trên vỉa hè thì một cô gái kỳ lạ tên là Tsukimiya Ayu chạy thẳng đến và xô vào người anh. Sau khi đứng lên, cô gái ấy lôi anh ta thẳng vào quán cà phê gần đó và tự thú rằng mình đã vô tình "cầm nhầm" bịch taiyaki mà chưa trả tiền, do đã chạy trốn vì quá sợ người bán hàng. Yuichi kéo Ayu quay lại xe hàng taiyaki, cả hai xin lỗi về những rắc rối đã gây ra và Ayu được tha thứ. Họ quyết định sẽ gặp lại nhau một ngày khác và Ayu đã chạy mất tăm ngay sau đó. Vài ngày sau đó, Yuichi gặp Sawatari Makoto, một cô gái tinh nghịch bị mất trí nhớ, đột nhiên xông ra tấn công anh và ngất xỉu, sau đó cô sống tạm ở nhà của Nayuki mặc cho Yuichi đòi giao cô cho cảnh sát. Một cô gái khác có liên hệ với quá khứ của Yuichi là Kawasumi Mai, học sinh trung học năm thứ ba cùng trường với anh. Cô luôn chiến đấu chống lại những con quỷ xuất hiện trong trường vào đêm khuya khi không có ai[9]. Do đó, cô liên tục bị đổ lỗi về những tai nạn hư hỏng đồ đạc trong trường vì không bao giờ chối nhận điều đó, do Mai có kĩ năng giao tiếp quá kém và biết rằng sẽ không ai tin câu chuyện ma quỷ của cô. Yuichi cũng tình cờ bắt gặp một cô gái nữa là Misaka Shiori, người duy nhất mà anh có thể trò chuyện một cách "an toàn" trong số năm nhân vật nữ chính của câu chuyện. Cô phải chịu đưng một căn bệnh lạ ngay từ khi sinh ra và cũng phải nghỉ học suốt vì nó. Yuichi bắt chuyện với Shiori sau một lần gặp cô ngoài sân trường. Cô kể rằng mình đứng bên ngoài sân trường gần như mỗi ngày để chờ gặp một ai đó.

Những việc kì lạ bắt đầu xảy ra tại thành phố này, kèm theo nó là những kí ức tuổi thơ đau buồn của các nhân vật chính. Đầu tiên là Makoto, thực chất là một con cáo con từng được Yuichi chăm sóc trong lần đến thăm thành phố trước đây, và cô dần không còn điều khiển được suy nghĩ cũng như hành động của mình. Yuichi sau nhiều lần chạm trán với quỷ cùng Mai đã dần nhớ ra những kỷ niệm trước đây của mình với cô. Căn bệnh của Shiori ngày càng nặng hơn và mọi người đều nghĩ cô sẽ khó qua khỏi. Mẹ của Nayuki bị một tai nạn giao thông và hôn mê, đây là một cú sốc đối với cô và Yuichi nhận thức được tình cảm mà cô dành cho anh nhiều năm trước. Yuichi đã kết bạn với Ayu lúc nhỏ và họ thường xuyên hẹn gặp nhau quanh một gốc cây cổ thụ to nằm sâu trong rừng, anh tặng cô một con búp bê nhỏ cùng lời hứa sẽ thực hiện ba điều ước của cô; không may sau đó Ayu bị ngã từ trên cây xuống và bất tỉnh suốt bảy năm. Yuichi đã phải làm mọi cách để thực hiện lời hứa và tâm nguyện của họ, những phép màu trong thành phố vẫn liên tục xảy ra suốt câu chuyện.

Hết phần cho biết trước nội dung.

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi rời Tactics, một thương hiệu của nhà xuất bản Nexton, hầu hết các nhân viên đã từng tham gia thực hiện visual novel ONE ~Kagayaku Kisetsu e~[10] đã sáng lập nên công ty Key (thuộc Visual Art's) vào năm 1998. Sản phẩm dự án đầu tiên của Key phát hành bởi Visual Art's chính là Kanon. Kế hoạch thực hiện visual novel này đứng đầu bởi Maeda JunHisaya Naoki, cũng chính là hai nhà biên kịch của trò chơi[11]. Chỉ đạo nghệ thuật là họa sĩ nổi tiếng của Key, Hinoue Itaru; bà cũng đảm nhiệm khâu thiết kế nhân vật và đồ họa vi tính[11]. Các hình ảnh khác trên máy tính được phân cho ba nhân viên là Din, Miracle Mikipon và Shinory đảm nhiệm; phông nền do Torino thiết kế. Nhạc của visual novel được soạn bởi OdiakeSOrito Shinji[1]. Kanon là visual novel đầu tiên và cũng là cuối cùng có sự tham gia của hai trong số các nhân viên của Key là Hisaya Naoki và OdiakeS trước khi họ tách ra và gia nhập vào các hãng sản xuất khác[12][13]. Game engine chính dùng để thiết kế Kanon là AVG32, một chương trình do Visual Art's tự phát triển và sử dụng để làm nền tảng trợ giúp cho những thương hiệu của họ[14].

Lịch sử phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Bìa phiên bản Kanon Standard Edition dành cho mọi lứa tuổi, phát hành ngày 28 tháng 1 năm 2005 bởi Visual Art's.

Kanon được phát hành lần đầu ở Nhật Bản vào ngày 4 tháng 6 năm 1999, chỉ dành cho hệ máy tính cá nhân (PC) dưới dạng CD-ROM[4]. Năm sau, nó phát hành thành hai phiên bản riêng biệt: một bản dành cho mọi lứa tuổi trên PC vào ngày 7 tháng 1 năm 2000[4]; và một bản console trên hệ máy Dreamcast vào ngày 14 tháng 9, 2000[15]. Phiên bản console thứ hai dành cho PlayStation 2, phát hành vào ngày 28 tháng 2 năm 2002, với một hình bìa game khác[16]. Sau khi các bản PS2 đã bán đủ số lượng đặt ra, hai năm sau đó vào ngày 22 tháng 12 năm 2004, một phiên bản rẻ hơn cho PS2 đã ra mắt, hay còn biết đến với tên "Best Version", được bán với giá chỉ bằng một nửa so với phiên bản đầu trên PS2[17]. "Best Version" trên PS2 sau này được đóng gói trong bộ "Key 3-Part Work Premium Box" cùng với hai bản tương ứng trên PS2 của AIRCLANNAD, phát hành ngày 30 tháng 7, 2009[18].

Bản tiêu chuẩn của Kanon (Kanon Standard Edition) ra mắt ngày 26 tháng 11, 2004 dưới dạng DVD-ROM, hỗ trợ thêm khả năng tương thích với Windows 2000/XP[19]. Chỉ phiên bản này và phiên bản gốc là có chứa những cảnh khiêu dâm[4]. Ba tháng sau vào ngày 28 tháng 1 năm 2005, một phiên bản tương tự được ra mắt nhưng mọi cảnh hentai đã gỡ bỏ nhằm hướng tới mọi lứa tuổi[4]. Phiên bản dành cho PlayStation Portable (PSP) phát hành tại Nhật Bản vào ngày 15 tháng 2, 2007. Bản đầu tiên phát hành trên hệ PSP có đính kèm một DVD với các thông điệp ngắn của năm diễn viên lồng tiếng và chỉnh sửa lại đoạn video dạo đầu của trò chơi[2]. Năm diễn viên lồng tiếng trong DVD là: Kōda Mariko lồng tiếng cho Minase Nayuki, Satō Akemi lồng tiếng cho Misaka Shiori, Iizuka Mayumi lồng tiếng cho Sawatari Makoto, Minaguchi Yūko lồng tiếng cho Minase Akiko và Sugita Tomokazu lồng tiếng cho Aizawa Yuichi. Horie Yui lồng tiếng cho Tsukimiya Ayu có ghi âm đoạn giới thiệu ngắn cho DVD, nhưng lại không xuất hiện trong nội dung của đĩa. Bản dùng để tải từ trên mạng dùng cho PSP thông qua PlayStation Store được phát hành bởi Prototype vào ngày 9 tháng 10, 2009[2].

Một phiên bản trên điện thoại di động FOMASoftBank 3G đã được Prototype phát hành thông qua Visual Art's Motto vào tháng 5 năm 2007[20]. Tuy phiên bản PC gốc của Kanon phát hành mà chưa được lồng tiếng, nhưng những lần phát hành sau đó, trên các hệ máy như Dreamcast và PS2, tất cả các nhân vật đều đã được lồng tiếng để nâng cao cảm xúc của người chơi. Ngoại lệ duy nhất là Yuichi, vốn không được lồng tiếng trong bất cứ phiên bản nào. Tuy vậy, Yuichi đã được lồng tiếng bởi Sugita Tomokazu trong bản PSP[21]. Một bản cập nhật tương thích với Windows Vista trên PC được Key phát hành vào ngày 31 tháng 7, 2009 trong một hộp chứa năm visual novel khác của hãng gọi là Key 10th Memorial Box; giống như các bản PC khác, phiên bản này cũng không được lồng tiếng và được phân hạng dành cho mọi lứa tuổi[22]. Một bản cập nhật tương thích với Windows 7, Kanon Memorial Edition, đã phát hành ngày 28 tháng 5, 2010 cũng được đánh giá phù hợp với mọi lứa tuổi[23].

Chuyển thể[sửa | sửa mã nguồn]

Sách và ấn phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Bìa Yuki no Shōjo tái bản, một trong các tập light novel của Kanon.

Năm light novel dành cho người trên 18 tuổi được viết bởi Shimizu Mariko và do Paradigm xuất bản đã ra mắt ở Nhật từ tháng 10 năm 1999 đến tháng 8 năm 2000[24][25]. Hình bìa và hình minh họa cho light novel được vẽ bởi Hinoue Itaru, cũng là họa sĩ của visual novel. Mỗi quyển light novel nói về một nhân vật nữ chính và có tựa dựa theo ca khúc chủ đề của mỗi nhân vật trong phiên bản game đầu tiên. Hai tập đầu mang tên Yuki no Shōjo (雪の少女? nói về Nayuki)Egao no Mukougawa ni (笑顔の向こう側に? nói về Shiori) lần lượt ra mắt trong tháng 10 và tháng 12, 1999. Tập thứ ba, Shōjo no Ori (少女の檻? nói về Mai), phát hành vào tháng 3 năm 2000; và tập thứ tư có tựa The Fox and the Grapes (nói về Makoto) ra mắt hai tháng sau đó. Tập cuối cùng mang tên Hidamari no Machi (日溜りの街? nói về Ayu) xuất bản vào tháng 8 năm 2000. Paradigm đã tái bản năm cuốn light novel này khi hợp tác với Visual Art's thông qua thương hiệu xuất bản VA Bunko, trong đó loại bỏ mọi hình ảnh khiêu dâm, bắt đầu với Yuki no Shōjo vào ngày 27 tháng 6 năm 2009[26], và hoàn tất tiến trình với Hidamari no Machi vào ngày 20 tháng 12, 2009[27]. Để bù vào phần nội dung bị lượt bỏ, Shimizu đã viết thêm vào các tình tiết mới cho mỗi tập. Cuốn tiểu thuyết thứ sáu mang tên Kanojotachi no Kenkai (彼女たちの見解? nói về Kurata Sayuri), tiếp tục được Shimizu sáng tác và minh họa bởi Zen, đã phát hành vào ngày 31 tháng 3, 2011[28].

Những quyển artbook bắt đầu được phát hành từ tháng 11 năm 2000 bởi Enterbrain. Đầu tiên là Kanon: Kōshiki Genga Settei Shiryōshū ~The Ultimate Art Collection of "Kanon"~ (Kanon: 公式 原画・設定資料集 ~The Ultimate Art Collection of "Kanon"~?), dày 239 trang, chứa nhiều hình ảnh minh họa và hình phác thảo các ý tưởng, cùng các bài bình luận về cảnh vật hay hành động của các nhân vật trong nhiều hoàn cảnh khác nhau[29]. Ngày 20 tháng 6 năm 2002, một artbook khác giới thiệu cho bộ anime năm 2002 lấy tên Kanon the animation – Dream Days được phát hành bởi Kadokawa Shoten; nó cung cấp nhiều bài giới thiệu về các nhân vật, hình ảnh minh họa và các bài phỏng vấn nhóm nhân viên sản xuất anime[30]. Ichijinsha tiếp tục phát hành một quyển tương tự dày 127 trang có tên Kanon Visual memories vào ngày 25 tháng 7, 2007; quyển này tập trung vào phiên bản anime làm lại năm 2006 và so sánh với những gì mà Kadokawa Shoten đã viết về sê-ri anime đầu tiên. Nó đính kèm với một đĩa CD âm thanh có 86 cách phát âm từ "ugū" của Ayu, thực hiện bởi diễn viên lồng tiếng Horie Yui. Mỗi từ "ugū" chỉ phát ra hai giây rồi sau đó tạm ngưng trước khi tiếp tục[31].

Các tập sách

Dưới đây là danh sách các tập sách và ấn phẩm của Kanon đã phát hành tại Nhật Bản:

Kanon (light novel dành cho người trên 18 tuổi)

Kanon the animation – Dream Days

Kanon Visual memories

Kanon (light novel tái bản, đã cắt bỏ các cảnh gợi cảm)

Kanon: Kōshiki Genga Settei Shiryōshū ~The Ultimate Art Collection of "Kanon"~

Drama CD[sửa | sửa mã nguồn]

Có tất cả ba bộ đĩa drama CD dựa trên Kanon với năm đĩa mỗi bộ, tổng cộng là 15 đĩa CD; những đĩa này phát hành trong vòng ba năm từ ngày 29 tháng 9, 2000 đến 26 tháng 4, 2003[32]. Hai bộ đĩa đầu tiên tập trung mô tả câu chuyện của mỗi nhân vật nữ chính trong từng đĩa; mặt hình của mỗi đĩa vẽ nhân vật mà đĩa đó nói đến. Bộ đĩa thứ ba không làm theo định dạng này, thay vào đó là một hợp tuyển các drama CD chứa kịch bản về Minase Akiko và hình của nhân vật này cũng được in lên mặt từng đĩa.

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

Loạt manga đầu tiên của Kanon đăng trên tạp chí Dengeki Daioh của MediaWorks từ tháng 12 năm 2000 đến tháng 7 năm 2002[33][34]. Các chương đơn trên tạp chí đã được tập hợp lại thành hai tankōbon và phát hành bởi MediaWorks thông qua nhãn hiệu Dengeki Comics vào ngày 27 tháng 9, 2000 và 27 tháng 7, 2002[35][36]. Cốt truyện được viết dựa trên visual novel và minh họa bởi Morishima Petit. Có tổng cộng sáu chương chia đều cho mỗi tập truyện. Bên cạnh hai chương mở đầu trong tập 1 và phần lời bạt trong tập 2, bốn chương còn lại tập trung vào bốn nhân vật nữ chính; đó là (theo thứ tự): Misaka Shiori, Sawatari Makoto, Kawasumi Mai và Tsukimiya Ayu. Để bù đắp cho Nayuki vì không có chương riêng, cô được vẽ cùng với nhân vật Yuichi ở hầu hết cảnh truyện[37][38]. Loạt manga đầu tiên khác với visual novel ở chỗ nó không kể hết mạch truyện của Shiori, Makoto và Mai. Gần cuối từng câu chuyện của họ ban đầu dự định sẽ giải đáp hết mọi nghi vấn đưa ra trước đó, nhưng manga lại kết thúc các kịch bản đó quá sớm, dẫn đến kết thúc mở[37][38]. Điều này có thể là do bộ truyện tập trung khá nhiều vào cốt truyện của Ayu.

Loạt manga thứ hai mang tên Kanon Honto no Omoi wa Egao no Mukōgawa ni (Kanon ホントの想いは笑顔の向こう側に?) với phụ đề each regret of Kanon, đã ra mắt từ số thứ hai đến số thứ bảy của tạp chí Dragon Age Pure và do Fujimi Shobo phát hành từ ngày 29 tháng 6, 2006 đến ngày 20 tháng 10, 2007[39][40][41]. Cốt truyện của manga cũng được viết dựa theo visual novel và do Shimotsuki Kinusa minh họa. Tankōbon đầu tiên phát hành tại Nhật Bản vào ngày 1 tháng 4 năm 2007, tập trung vào câu chuyện của Nayuki[42]. Có năm chương trong tập đầu, bắt đầu với chương một gồm 46 trang, sau đó là 24 trang chia đều cho hai chương thêm. Chương bốn có 40 trang, cuối cùng là sáu trang của chương kết thúc. Tankōbon thứ hai phát hành vào ngày 8 tháng 12 năm 2007, nói về bốn nhân vật nữ chính còn lại[43]. Có bốn chương trong tập này, mỗi chương tập trung vào một nhân vật chưa được nói đến trong tập 1, bắt đầu với chương của Makoto gồm 38 trang, tiếp đó là Mai với 18 trang, Shiori dài 20 trang và cuối cùng là Ayu dài 48 trang.

Hai loạt manga khác chỉ dài một tập cũng có nội dung liên quan đến Kanon. Manga đầu tiên mang tên Kanon & AIR Sky (Kanon & AIRスカイ?), do Izumi Rei sáng tác dành cho đối tượng độc giả chính là shōjo, chứa những mẫu truyện về KanonAIR và được Kadokawa Shoten phát hành trong tháng 5 năm 2002. Quyển sách chia làm 12 chương với tổng cộng 140 trang, nội dung mỗi chương chưa từng xuất hiện trong anime chuyển thể từ hai visual novel của Key được sắp xếp luân phiên[44][45]. Loạt manga thứ hai do Sagiri Suda minh họa mang tên Kanon & AIR Anthology Comics ~Hara Peko~ (Kanon & AIRアンソロジーコミック ~はらぺこ~?), được Enterbrain cho ra mắt vào tháng 8 năm 2003[46].

Ngoài ra còn có rất nhiều bộ hợp tuyển manga khác được sáng tác và minh họa bởi nhiều công ty và họa sĩ khác nhau. Tuyển tập đầu tiên tập hợp những mẫu truyện được vẽ sớm nhất do Ichijinsha ấn hành với tên Kanon Comic Anthology (Kanonコミックアンソロジー?) vào tháng 11 năm 2000, mang nhãn hiệu DNA Media Comics[47]. Những quyển còn lại trong bộ tiếp tục được phát hành đều đặn trong hai năm và kết thúc vào tháng 12 năm 2002 với tổng cộng 14 tập[48]; tập 15 bổ sung thêm phát hành vào tháng 2 năm 2007[49]. Ichijinsha cũng phát hành hai tập của bộ hợp tuyển theo phong cách bốn hình một trang (yonkoma) với tựa đề Kanon 4-koma Kings (Kanon4コマKINGS?), từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2001[50]. Bộ hợp tuyển thứ hai phát hành bởi Softgarage vào tháng 12 năm 2002 chỉ dài một tập, lấy tên Kanon Anthology Comic (Kanon・アンソロジーコミック?)[51]. Ngày 17 tháng 4 năm 2004, Ohzora cho ra mắt một tuyển tập dựa trên KanonAIR với nhan đề Haru Urara: Kanon & Air (春うらら ~Kanon&AIR~傑作選?)[52]. Từ tháng sáu đến tháng 8 năm 2004, Ohzora tiếp tục phát hành bốn tập manga được vẽ bởi năm họa sĩ khác nhau[53][54]. Ohzora sau đó tổng hợp lại một số truyện trong các tuyển tập manga trước đây và phát hành thành hai bộ hợp tuyển mang tên Kanon Anthology Comics Best Selection (Kanonアンソロジーコミックス ベストセレクション?) vào tháng 12 năm 2006 và tháng 1 năm 2007[55][56]. Ohzora vẫn còn phát hành thêm 13 tuyển tập khác với tên Kanon mang nhãn hiệu Twin Heart Comics. Một công ty hiện nay đã phá sản là Raporto đã phát hành 21 tuyển tập về sê-ri mang nhãn hiệu Raporto Comics từ tháng 11 năm 2000 đến tháng 10 năm 2002[57][58]. Tuyển tập manga cuối cùng của Kanon là một bộ sưu tập các mẫu truyện theo phong cách bốn hình một trang, đã xuất bản chỉ với một tập duy nhất bởi Enterbrain với nhan đề Magi-Cu 4-koma Kanon (マジキュー4コマ Kanon?) vào tháng 1 năm 2007, mang nhãn hiệu MC Comics[59]. Mỗi bộ truyện trên được viết và vẽ bởi rất nhiều người khác nhau, trung bình là khoảng 20 người tham gia thực hiện mỗi tập[52].

Các tập manga

Dưới đây là danh sách các ấn phẩm manga Kanon xuất bản tại Nhật:

Kanon Comic Anthology

Kanon 4-koma Kings

Kanon Anthology Comic

Haru Urara: Kanon & Air

Kanon của Ohzora

Kanon Anthology Comics Best Selection

Magi-Cu 4-koma Kanon

Kanon

Kanon Honto no Omoi wa Egao no Mukōgawa ni

  • Tập 1: ISBN 978-4-04-712490-5, 1 tháng 4 năm 2007
  • Tập 2: ISBN 978-4-04-712521-61 8 tháng 12 năm 2007

Kanon & AIR Sky

Kanon & AIR Anthology Comics ~Hara Peko~

Kanon của Raporto

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

So sánh chất lượng giữa hai cảnh xuất hiện của Minase Nayuki trong phiên bản anime Kanon đầu tiên (trái) và thứ hai (phải). Loạt phim đầu được chiếu dưới tỉ lệ khung hình 4:3, và sê-ri thứ hai ở tỉ lệ 16:9. So sánh chất lượng giữa hai cảnh xuất hiện của Minase Nayuki trong phiên bản anime Kanon đầu tiên (trái) và thứ hai (phải). Loạt phim đầu được chiếu dưới tỉ lệ khung hình 4:3, và sê-ri thứ hai ở tỉ lệ 16:9.
So sánh chất lượng giữa hai cảnh xuất hiện của Minase Nayuki trong phiên bản anime Kanon đầu tiên (trái) và thứ hai (phải). Loạt phim đầu được chiếu dưới tỉ lệ khung hình 4:3, và sê-ri thứ hai ở tỉ lệ 16:9.

Bộ anime Kanon đầu tiên được sản xuất bởi hãng phim hoạt hình Nhật Bản Toei Animation và do Ito Takamichi làm đạo diễn[60]. Tổng cộng 13 tập[61] đã được phát sóng tại Nhật Bản từ ngày 31 tháng 1 đến 28 tháng 3 năm 2002[62]. Sau đó một tập OVA mang tựa "Kanon Kazahana" đã phát hành vào tháng 3 năm 2003[63]. Sê-ri anime này cùng tập OVA đã dùng hai bài hát "Florescence" và "Flower" lần lượt làm ca khúc dạo đầu và kết thúc mỗi tập phim. "Kaze no Tadoritsuku Basho" không được hát ở phần cuối trong 12 tập đầu của anime và cả OVA, nhưng nó đã được dùng ở tập 13, trở thành bài hát kết thúc 13 tập của loạt phim[64]. Ngoài ra ca khúc "Last regrets" dùng cho phần mở đầu của visual novel cũng được sử dụng ở tập 13 trong một đoạn hồi tưởng[64].

Bắt đầu từ năm 2006, Kyoto Animation, hãng đã chuyển thể thành công loạt anime dựa theo một visual novel khác của KeyAIR, đã quyết định thực hiện một bản chuyển thể mới của Kanon. Sê-ri này do Ishihara Tatsuya làm đạo diễn[65] và đã phát sóng tại Nhật Bản từ ngày 5 tháng 10, 2006 đến 15 tháng 3, 2007 trên kênh BS-i với tổng cộng 24 tập[66]. ADV Films đã công bố vào ngày 21 tháng 9 năm 2007 tại hội nghị Anime Weekend Atlanta, rằng họ đã được cấp bản quyền phát hành anime Kanon thứ hai ở Bắc Mỹ[67]. ADV Films cũng đã đăng một trailer quảng cáo loạt phim vào tháng 8 năm 2007, nhưng họ đã tháo xuống sau khi nó lan ra khắp internet[68]. Các tập lồng tiếng Anh đầu tiên đã cho chiếu giới thiệu trực tuyến trên trang web Anime News Network từ ngày 23 tháng 12 đến 30 tháng 12 năm 2007[69]. Tháng 7 năm 2008, bản quyền phát hành phiên bản tiếng Anh của Kanon đã được chuyển nhượng sang Funimation Entertainment, hãng này tiếp tục phát hành loạt phim tại thị trường Bắc Mỹ[70].

Sê-ri phim truyền hình Kanon thứ hai có dàn diễn viên lồng tiếng (seiyū) giống như bộ anime thứ nhất từng thực hiện vào năm 2002, ngoại trừ Yuichi và Kuze. Kịch bản chuyển thể lần này được kéo dài thêm và chất lượng hình ảnh được nâng cao. Không giống loạt phim đầu tiên, sê-ri anime thứ hai sử dụng các bản nhạc trong visual novel để làm ca khúc mở đầu - kết thúc, cũng như làm nhạc nền. Chỉ có một bài hát ở tập 16 không xuất hiện trong visual novel, nó mang tên "Last regrets -X'mas floor style-" do Shimamiya Eiko trình bày trong album đầu tay của I've Sound: Regret. Những bài nhạc khác cũng được đặt vào các album cải biên phát hành trong những năm sau đó như Anemoscope, Recollections, Re-feelMa-Na.

Lồng tiếng

Dưới đây là danh sách seiyū lồng tiếng cho một số nhân vật quan trọng trong hai bộ anime Kanon[71][72]:

Nhân vật Diễn viên
Tsukimiya Ayu Horie Yui
Aizawa Yuichi Kisaichi Atsushi (2002)
Sugita Tomokazu (2006)
Minase Nayuki Kōda Mariko
Misaka Shiori Satō Akemi
Sawatari Makoto Iizuka Mayumi
Kawasumi Mai Tamura Yukari
Minase Akiko Minaguchi Yūko
Kurata Sayuri Kawakami Tomoko
Misaka Kaori Kawasumi Ayako
Amano Mishio Sakamoto Maaya
Kitagawa Jun Seki Tomokazu

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Visual novel Kanon có hai bài hát chủ đề: ca khúc mở đầu là "Last regrets" và ca khúc kết thúc là "Kaze no Tadoritsuku Basho" (風の辿り着く場所?), cả hai được trình bày bởi Ayana. Lời hai bài hát do Maeda Jun sáng tác[73] và cải biên bởi Kazuya Takase của nhóm I've Sound. Năm bản nhạc chủ đạo thuộc thể loại nhạc nền (BGM) dành cho năm nhân vật nữ chính gồm: bài của Ayu là "Hidamari no Machi" (日溜りの街?); bài của Nayuki là "Yuki no Shōjo" (雪の少女?); bài của Makoto là "The Fox and the Grapes"; bài của Shiori là "Egao no Mukōgawa ni" (笑顔の向こう側に?); cuối cùng là bài của Mai có tựa đề "Shōjo no Ori" (少女の檻?)[74].

Album đầu tiên, Anemoscope, đính kèm với phiên bản game đầu của Kanon phát hành trong tháng 6 năm 1999[73]. Một đĩa đơn phát hành sau đó lấy tên "Last regrets/Place of wind which arrives" có chứa hai ca khúc mở đầu - kết thúc cộng thêm ba bài nhạc nền được cải biên và một bản nam ca bài hát mở đầu[73]. Album tổng hợp có chứa các bài hát của hai album đầu phát hành vào tháng 12 năm 2001 mang tên Recollections[75]. Soundtrack của trò chơi phát hành trong tháng 10 năm 2002, gồm 22 track nhạc khác nhau và các phiên bản ngắn của hai bài hát chủ đề[75]. Một album hòa tấu piano ra mắt trong tháng 12 năm 2003 mang tên Re-feel chứa năm nhạc phẩm trong Kanon và năm nhạc phẩm trong AIR[75]. Ngoại trừ một album và đĩa đơn đầu tiên, mỗi nhạc phẩm trên khi bán ra thị trường đều gắn nhãn Key Sounds Label, hãng thu âm của Key; lý do là vì các đĩa đó được phát hành trước khi hãng thu âm này thành lập[75].

Đĩa tổng hợp soundtrack trong anime phát hành vào tháng 5 năm 2002[76]; và đĩa thứ hai ra mắt tiếp sau đó vào tháng 7 cùng năm[77]. Hai bài hát chủ đề mở đầu và kết thúc của bộ anime đầu tiên là "Florescence" và "Flower", tất cả đều do Fujiwara Miho trình bày, maxi single chứa hai nhạc phẩm phát hành vào tháng 6 năm 2002[78]. Một album chứa tất cả các track nhạc đã được hòa tấu bằng hộp nhạc trong sê-ri phim cũng ra mắt vào tháng 7 năm 2003 với tên Orgel de Kiku Sakuhin Shū[79]. Các nhạc phẩm dành cho loạt phim hoạt hình đầu tiên phát hành bởi Frontier WorksMovic. Một đĩa đơn nữa phát hành để kỷ niệm sê-ri anime thứ hai mang tên "Last regrets/Kaze no Tadoritsuku Basho" gồm các bản nhạc của hai ca khúc mở đầu và kết thúc được thể hiện theo nhiều cách khác nhau, như bản gốc, ngắn và remix, do Key Sounds Label sản xuất[75].

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Doanh số và đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Theo bảng xếp hạng doanh số các bishōjo game được bán trên toàn quốc tại Nhật Bản, phiên bản đầu tiên của Kanon trên hệ máy PC đã xếp vị trí thứ hai ngay trong lần phát hành đầu tiên[80]. Với tổng cộng 39.683 bản được bán thành công, trò chơi đã nằm trong danh sách các game bán chạy nhất năm 1999[81]. Ba năm sau vào tháng 6 năm 2002, phiên bản gốc xếp hạng một lần nữa với trị trí thứ 45 rồi rớt xuống hạng 46 hai tuần sau đó[80]. Trong lần xuất hiện cuối cùng vào đầu tháng 7 năm 2002, phiên bản này tăng hạng trở lại với trị thứ 41[82]. Kanon Standard Edition xếp hạng thứ 16 trong lần đầu ra mắt[83]. Phiên bản này vẫn còn tiếp tục đứng trong tốp 50 game bán chạy nhất suốt hai tháng sau, nó lần lượt chiếm các vị trí 47 và 35[84]. Bản mọi lứa tuổi của Kanon Standard Edition đứng ở vị trí thứ 42 trên toàn quốc, nhưng đã tăng lên hạng thứ 35 trong tháng kế tiếp, và không tiếp tục xuất hiện trong các bảng xếp hạng về sau[85]. Phiên bản chơi trên hệ máy Dreamcast bán được 42.379 ngay trong tuần đầu tiên phát hành, và là trò chơi console bán chạy thứ tư trong tuần đó ở Nhật Bản[86]. Chốt lại, Kanon đã bán được hơn 300.000 bản trên nhiều hệ máy khác nhau, chưa tính đến các bản trên PSP[21].

Phiên bản đầu tiên chơi trên PS2 phát hành năm 2002 đã được bình luận trên tạp chí chuyên về trò chơi điện tử Nhật Bản Famitsu, ở đó nó nhận được số điểm tổng cộng là 29/40 (với bốn tiêu chí đánh giá riêng đạt các điểm 7, 8, 7 và 8)[87]. Suzumoto Yūichi nhận xét trong cuộc phỏng vấn vào tháng 3 năm 2001, rằng ông cảm thấy có thể tóm tắt ngắn gọn đoạn kết của Kanon là "hoàng tử và công chúa sống hạnh phúc mãi về sau. Hết", cho thấy đó là một kết thúc mà không hé mở thêm bất cứ chuyện gì có thể xảy ra sau đó[3]. Vào tháng 10 năm 2007, Dengeki G's Magazine tổ chức một cuộc thăm dò ý kiến để chọn ra tốp 50 bishōjo game hay nhất từng phát hành, Kanon xếp thứ 5 với 71 phiếu bầu trong tổng số 249 tựa game được đề cử[88]. Một năm sau, vào tháng 9 năm 2008, Dengeki Online tổ chức đợt khảo sát kéo dài một tháng dành cho người chơi game với câu hỏi: "Trò chơi nào đã khiến bạn cảm động đến bật khóc?". Kết quả, Kanon xếp thứ 5 trong tốp 10 game, ba trò chơi khác của Key là CLANNAD, AIRLittle Busters! lần lượt chiếm các vị trí 2, 7 và 10[89].

Đặc điểm của Kanon là sử dụng những điều bình thường để mô tả những việc không bình thường, sự kết hợp một cách hài hòa nhiều yếu tố trong kịch bản đã khiến người chơi bị quyến rũ. Cốt truyện được viết mỗi lúc một căng thẳng cộng thêm khả năng dàn dựng các tình huống bi kịch dễ dàng đánh vào tâm lý người chơi, khiến cho họ phải trăn trở hay bật khóc vì những điều tốt đẹp thường kết thúc quá sớm[90]. Các nhân vật được thiết kế với các tính cách và hành vi khác nhau làm tăng chiều sâu của cốt truyện và cũng làm cho giá trị chơi lại tăng lên[90][91][92]. Kanon, được ví như một làn sóng chấn động, là một bước ngoặt lớn của bishōjo game, trái với các tựa game trước luôn chú trọng đến những cảnh quan hệ tình dục, trò chơi này đã giúp người chơi tập trung nhiều hơn vào việc tận hưởng âm nhạc và kịch bản, đồng thời "có được những trải nghiệm mới về một tình cảm trong sáng và sự đau khổ đến nghẹn ngào"[93]. Do trò chơi được thực hiện trong thời điểm các công ty phần mềm Nhật Bản không muốn sử dụng công nghệ đồ họa của phương Tây, thêm vào đó các kỹ thuật đồ họa hoàn toàn tạo ra tại Nhật Bản cũng không nhiều; vậy nên khi so sánh với những visual novel đời mới như Da Capo II, các nhà phê bình không thể chê bai những hình ảnh của Kanon. Khuyết điểm duy nhất của phiên bản gốc trên PC là không lồng tiếng, bắt buộc người chơi phải đọc để hiểu cốt truyện đang đi đến đâu. Nhưng tổng hợp lại thì Kanon là một trong những trò chơi hay nhất của thể loại này vào thời điểm mà nó ra mắt vào năm 1999[90][94][95].

Bộ anime thứ hai của Kanon đã được đánh giá trên Anime News Network bởi nhà phê bình Theron Martin, ông nhận định anime này là "nơi hội tụ của các nhân vật mang phong cách moe", và cái cách mà yếu tố moe (dễ thương) sử dụng trong bộ phim đã giúp người xem "có cảm giác như họ đang chìm trong cái hồ của vẻ đáng yêu ướt át". Loạt phim được so sánh như anime AIR bằng câu "Giống như AIR, bốn tập đầu chỉ đơn giản là nhân vật nam chính lên thành phố và bắt đầu giết thời gian bằng cách giao tiếp với các cô gái dễ thương. Không như AIR ở chỗ việc giao tiếp đôi khi rất buồn cười"[96]. Martin cũng so sánh Kanon với một bộ anime chuyển thể từ visual novel khác là Shuffle!, ông miêu tả Kanon như đang "dội bom" vào tác phẩm này. Martin nêu quan điểm về tạo hình nhân vật: "Các nhận vật rất dễ thương với người xem... tốt hơn nhiều so với những gì mà Shuffle! thể hiện". Martin lưu ý đến sự chuyển tiếp giữa những khoảnh khắc hài hước và nghiêm túc như một đặc điểm của câu chuyện[97]. Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra một trong những sai sót của sê-ri, đó là việc nó "sử dụng hai con bài là sự trong sáng và phong cách moe cùng một lúc", khiến cho cốt truyện bị tác động ít nhiều. Yuichi được mô tả là "quá thất thường để có thể tin cậy" hay quá dễ tin[98]. Mặc dù còn xuất hiện một vài điểm khó hiểu, Martin vẫn đánh giá loạt phim là "một trong những tác phẩm thể hiện moe tốt nhất đến nay", đồng thời ca ngợi chất lượng sản xuất của Kyoto Animation đã giúp Kanon "trở thành một trong những anime đẹp nhất trong năm qua". Martin còn bổ sung thêm một đoạn so sánh khác, ví Kanon là "đối cực của Gurren Lagann", một anime chỉ tập trung vào những cảnh hành động trong suốt cốt truyện[99].

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Maeda Jun đã tuyên bố vào tháng 3 năm 2001 rằng Kanon là một thành công lớn, nó đã thúc đẩy ông tiếp tục sáng tác và giúp Key có thêm tự tin để phát triển các sản phẩm sau này, tiêu biểu là hai siêu phẩm AIRCLANNAD. Hơn nữa, Maeda còn nói thêm rằng không chỉ mình ông mới có suy nghĩ như vậy[3]. Nhà biên kịch Suzumoto Yūichi cho biết Kanon khi ra đời vào năm 1999 đã gây ấn tượng với ông và là nguồn động lực để ông xin gia nhập vào Visual Art's, để rồi trở thành người viết kịch bản của Key từ tháng 2 năm 2002[100].

Các nhân viên của Key từng tham gia thực hiện ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ và kế đến là Kanon đã hình thành nên tên gọi cho một khái niệm mới là "crying game" (một nhánh của bishōjo game, có khả năng khiến người chơi khóc thương cho số phận của các nhân vật), motif này vốn từng được một số tựa game khác sử dụng, điển hình là To Heart của Leaf. Sự thành công của ONEKanon đã củng cố tên gọi này, dần dần biến nó thành khái niệm cơ bản và bắt đầu được áp dụng bởi các hãng visual novel khác khi phân loại các tựa game của họ như D.O. với trò chơi Kana – Imōto, KID với Memories Off, Circus với Da Capo, Studio Mebius với SnowMinori với Wind – a breath of heart; "crying game" đã giúp tạo ra thể loại Nakigē (泣きゲー?) và phát triển thành một trong những hướng đi mới cho các visual novel đời sau[101][102].

Những nhân vật trong Kanon cũng xuất hiện ở một vài trò chơi dōjin không liên quan đến tác phẩm. Chẳng hạn như Eternal Fighter Zero của hãng Twilight Frontier, trong đó lấy hầu hết các nhân vật xuất hiện trong Kanon và cả tác phẩm trước đó của Key là ONE[103]. Trò Glove on Fight có xuất hiện hai nhân vật trong Kanon là Tsukimiya Ayu và Minase Akiko trong tư thế sẵn sàng chiến đấu (vì đây là game đối kháng) với các nhân vật trong các tác phẩm khác[104]. Nhân vật Tsukimiya Ayu đặc biệt còn xuất hiện trong các không gian khác ngoài Kanon, chẳng hạn như tại trang thứ 67 của webcomic Megatokyo, có thể nhìn thấy cô đang ăn taiyaki trong một góc tranh nhỏ[105].

Do sự nổi tiếng của Kanon, đặc biệt là sau khi chuyển thể anime thứ hai ra mắt năm 2006, nhiều vật dụng được sản xuất đã in logo của của tác phẩm như cốc cà phê, thẻ thanh toán, áp phích cùng các bức tượng nhỏ và artbook có in hình các nhân vật. Năm ngày trước khi trò chơi xuất hiện trên hệ máy PS2, một máy in PlayStation 2 mang tên Tapis MPR-505 đã được tung ra thị trường, nó có thể in bất cứ hình ảnh nào từ màn hình chơi game. Kanon là một trong ba trò chơi khánh thành chiếc máy này, hai game khác là America Ōden Ultra Quiz của DigiCubeMarle de Jigsaw của Nippon Ichi Software[106]. Năm 2007, nhiều bức tượng nhỏ mang hình dáng Ayu trong các tư thế khác nhau đã được sản xuất. Phiên bản chibi của cô mặc bộ đồ giáng sinh ra mắt ngày ngày 29 tháng 1, 2007 bởi Movic[107]. Một số khác do Russian Blue, Kotobukiya và Max Factory sản xuất[108][109][110]. Các nhân vật khác của Kanon cũng được sản xuất bởi nhiều hãng khác nhau, kể cả nhân vật nam chính.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Kanon Visual Fan Book (bằng tiếng Nhật). Enterbrain. Tháng 6 năm 2000. ISBN 978-4-7577-0039-0. 
  2. ^ a ă â “PROTOTYPE Kanon (bằng tiếng Nhật). Prototype. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2007. 
  3. ^ a ă â b c “カラフル・ピュアガール 2001年3月号 Keyシナリオスタッフ ロングインタビュー” [Colorful Pure Girl March 2001 Issue Key Scenario Staff Long Interview] (bằng tiếng Nhật). Colorful Pure Girl. Tháng 3 năm 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2008. 
  4. ^ a ă â b c d “Kanon Key Official HomePage” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007. 
  5. ^ Câu thoại gốc: 起きないから、奇跡って言うんですよ
    Dịch tiếng Việt: "Nó được gọi là một điều kì diệu vì nó đã không xảy ra."
  6. ^ Câu thoại gốc: 約束、だよ
    Dịch tiếng Việt: "Một lời hứa."
  7. ^ Nakagami Yoshikatsu; Ikeda Kazumi; Takeda Akiyo; Miyata Kana; Unoguchi Joh (Tháng 1 năm năm 2007). “Kanon”. Newtype USA (bằng tiếng Anh) (Houston, TX: A.D. Vision) 6 (1): 62–63. ISSN 1541-4817. 
  8. ^ Câu thoại gốc: 春がきて・・・ずっと春だったらいいのに
    Dịch tiếng Anh: "Nếu mùa xuân đến và ở lại đây mãi mãi."
  9. ^ Câu thoại gốc: 私は魔物を討つ者だから
    Dịch tiếng Anh: "Tôi là một thợ săn quỷ."
  10. ^ “ONE ~輝く季節へ~ ErogameScape-エロゲー批評空間-” [One: Kagayaku Kisetsu e ErogameScape - Eroge Commentary Room -] (bằng tiếng Nhật). ErogameScape. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009. 
  11. ^ a ă Kanon ErogameScape-エロゲー批評空間-” [Kanon ErogameScape - Eroge Commentary Room -] (bằng tiếng Nhật). Erogamescape. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2007. 
  12. ^ “久弥直樹 関わったゲーム一覧 -ErogameScape-エロゲー批評空間-” [Naoki Hisaya Games Done at a Glance - ErogameScape - Eroge Commentary Room -] (bằng tiếng Nhật). ErogameScape. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009. 
  13. ^ “OdiakeS 関わったゲーム一覧 -ErogameScape-エロゲー批評空間-” [OdiakeS Games Done at a Glance - ErogameScape - Eroge Commentary Room -] (bằng tiếng Nhật). ErogameScape. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009. 
  14. ^ “AVG32 developer by Visual Art's” (bằng tiếng Anh). Visual Novel Engine Formats Page. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2010. 
  15. ^ “Kanon カノン” [Kanon (Kanon)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009. 
  16. ^ “インターチャネル Kanon(ベスト版)” [Interchannel Kanon (Best Version)] (bằng tiếng Nhật). Interchannel. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  17. ^ Kanon (bằng tiếng Nhật). GunHo Works. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2008. 
  18. ^ “key3部作プレミアムBOX” [Key 3-part Work Premium BOX] (bằng tiếng Nhật). GungHo Works. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2009. 
  19. ^ “最速VisualAntena! (最速ビジュアルアンテナ) Kanon Standard Edition” [Fastest VisualAntena! Kanon Standard Edition] (bằng tiếng Nhật). Visual Art's. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009. 
  20. ^ “ビジュアルアーツ☆Motto” [Visual Art's Motto] (bằng tiếng Nhật). Visual Art's Motto. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2008. 
  21. ^ a ă Kanon 深い雪に覆われた街で語られる、小さな奇跡の物語” [Kanon A Story Told in a Profound, Snow Covered Town, a Story of a Small Miracle] (bằng tiếng Nhật). Sega. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2007. 
  22. ^ “Key 10th MEMORIAL BOX” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2009. 
  23. ^ “Keyの過去五作品がメモリアルエディションで発売です!” [Key's Previous Five Titles Get Memorial Editions!] (bằng tiếng Nhật). Key. 7 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2010. 
  24. ^ “Kanon~雪の少女~” [Kanon: Yuki no Shōjo] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2009. 
  25. ^ “Kanon―日溜まりの街” [Kanon: A Sunny City] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2009. 
  26. ^ “Kanon雪の少女” [Kanon: Girl in the Snow] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2009. 
  27. ^ “Kanon日溜まりの街” [Kanon: Hidamari no Machi] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2011. 
  28. ^ “『Kanon Vol.6 ~彼女たちの見解~』” (bằng tiếng Nhật). VA Bunko. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2011. 
  29. ^ “Kanon 公式 原画・設定資料集” (bằng tiếng Nhật). Enterbrain. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2008. 
  30. ^ “Kanon the animation” (bằng tiếng Nhật). Kadokawa Shoten. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2008. 
  31. ^ “TVアニメーションKanon Visual memories” (bằng tiếng Nhật). Tokyo Broadcasting System. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2008. 
  32. ^ Kanon (bằng tiếng Nhật). CD Japan. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2007. 
  33. ^ (tiếng Nhật)Dengeki Daioh (MediaWorks) (Tháng 12 năm 2000). 
  34. ^ (tiếng Nhật)Dengeki Daioh (MediaWorks) (Tháng 7 năm 2002). 
  35. ^ “Kanon 1 (電撃コミックス) (コミック)” [Kanon 1 (Dengeki Comics) (comic)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2009. 
  36. ^ “Kanon 2 (電撃コミックス) (コミック)” [Kanon 2 (Dengeki Comics) (comic)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2009. 
  37. ^ a ă Morishima, Petit. Kanon manga (bằng tiếng Nhật) 1. MediaWorks. ISBN 978-4840216784. 
  38. ^ a ă Morishima, Petit. Kanon manga (bằng tiếng Nhật) 2. MediaWorks. ISBN 978-4840221306. 
  39. ^ “大人気ゲーム「Kanon」をコミカライズ!!” [Highly Popular Game Kanon Becomes a Comic!!] (bằng tiếng Nhật). Fujimi Shobo. 30 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2007. 
  40. ^ Dragon Age Pure (bằng tiếng Nhật) (Fujimi Shobo) 2. 
  41. ^ Dragon Age Pure (bằng tiếng Nhật) (Fujimi Shobo) 7. 
  42. ^ “Kanon ホントの想いは笑顔の向こう側に1” [Kanon: The Real Feelings of the Other Side of the Smiling Face 1] (bằng tiếng Nhật). Kadokawa Shoten. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2007. 
  43. ^ “Kanon ホントの想いは笑顔の向こう側に2” [Kanon: The Real Feelings of the Other Side of the Smiling Face 2] (bằng tiếng Nhật). Kadokawa Shoten. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2007. 
  44. ^ “Kanon & Air Sky” (bằng tiếng Anh). Mangaupdates.com. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010. 
  45. ^ “Kanon & AIRスカイ (角川コミックス)” (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010. 
  46. ^ “Kanon & AIRスカイ (角川コミックス)” (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010. 
  47. ^ “Kanonコミックアンソロジー (DNAメディアコミックス) (コミック)” [Kanon Comic Anthology (DNA Media Comics) (comic)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  48. ^ “Kanonコミックアンソロジー 14 (DNAメディアコミックス) (コミック)” [Kanon Comic Anthology 14 (DNA Media Comics) (comic)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  49. ^ “Kanonコミックアンソロジー 15 (DNAメディアコミックス) (コミック)” [Kanon Comic Anthology 15 (DNA Media Comics) (comic)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  50. ^ “Kanon4コマKINGS (DNAメディアコミックス)” (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2010. 
  51. ^ “Kanon・アンソロジーコミック (Sofgare comics) (コミック)” [Kanon Anthology Comic (Sofgare comics) (comic)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  52. ^ a ă “春うらら ~Kanon&AIR~傑作選” [Haru Urara: Kanon & Air Best Work Selection] (bằng tiếng Nhật). Ohzora. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2008. 
  53. ^ “Kanon Remix (かのん れみっくす)” [Kanon Remix] (bằng tiếng Nhật). Ohzora. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  54. ^ “キミと出会えたこの場所 ~Kanon傑作選~” [Kimi to Deatta Kono Basho: Kanon Best Selection] (bằng tiếng Nhật). Ohzora. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  55. ^ “Kanonアンソロジーコミックス ベストセレクション1” [Kanon Anthology Comics Best Selection 1] (bằng tiếng Nhật). Ohzora. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  56. ^ “Kanonアンソロジーコミックス ベストセレクション2” [Kanon Anthology Comics Best Selection 2] (bằng tiếng Nhật). Ohzora. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  57. ^ “Kanon 1 (ラポートコミックス) (コミック)” [Kanon 1 (Raporto Comics) (comic)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2009. 
  58. ^ “Kanon 21 (ラポートコミックス) (コミック)” [Kanon 21 (Raporto Comics) (comic)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2009. 
  59. ^ “マジキュー4コマ Kanon (マジキューコミックス) (コミック)” [Magi-Cu 4-koma Kanon (Magi-Cu Comics) (comic)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  60. ^ “東映アニメーション” [Toei Animation] (bằng tiếng Nhật). Toei Animation. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  61. ^ “First Kanon anime official episode listing” (bằng tiếng Nhật). Toei Animation. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  62. ^ “カノン - TOEI ANIMATION” [Kanon - TOEI ANIMATION] (bằng tiếng Nhật). Toei Animation. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  63. ^ “TVアニメーション『Kanon』DVD・CDキャンペーン プレゼントAコース用 特典映像『風花』” [TV Animation Kanon DVD/CD Campaign: Present Bonus Footage Kazahana] (bằng tiếng Nhật). Animate. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 12 năm 2002. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  64. ^ a ă "Where the Wind Leads" (bằng). Kanon (2002) - Toei Animation. 
  65. ^ “TVアニメ「Kanon」公式HP” [TV Anime Kanon Official HP] (bằng tiếng Nhật). TBS. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  66. ^ “TVアニメ「Kanon」公式HP” [TV Anime Kanon Official HP] (bằng tiếng Nhật). TBS. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009. 
  67. ^ “ADV's Acquisition of 2nd Kanon Series Confirmed at AWA”. Anime News Network. 22 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2007. 
  68. ^ “ADV Films Posts Trailers for Second Kanon TV Series (Updated)” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. 8 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2007. 
  69. ^ Kanon - Episode 1 Preview - 2 Days Left” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. 28 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2007. 
  70. ^ “Funimation Picks Up Over 30 Former AD Vision Titles” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. 4 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2008. 
  71. ^ “Kanon (TV 1/2002) - Japanese cast” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2010. 
  72. ^ “Kanon (TV 2/2006) - Japanese cast” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2010. 
  73. ^ a ă â “Key Sounds Label albums with contributions by Jun Maeda” (bằng tiếng Nhật). Respect Maeda. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2008. 
  74. ^ Kanon Original Soundtrack booklet transcribed online” (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2008. 
  75. ^ a ă â b c “Key Sounds Label's discography” (bằng tiếng Nhật). Key Sounds Label. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2008. 
  76. ^ “TVシリーズ Kanon~カノン~サウンドトラック 第1巻” [TV Series Kanon Soundtrack 1] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  77. ^ “TVアニメーション版 Kanonサウンドトラック第2巻” [TV Series Kanon Soundtrack 2] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  78. ^ “Kanon ~カノン~ - florescence [Limited Edition] [Maxi]” [Kanon "Florescence" (Limited Edition) (Maxi)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  79. ^ “オルゴールで聴く TVアニメーション版 Kanon 作品集 [Soundtrack]” [Orgel de Kiku TV Animation Version Kanon Work Collection] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  80. ^ a ă “PEAKS PCnewsWEB” (bằng tiếng Nhật). Peakspub. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2007. 
  81. ^ 美少女ゲーム年間販売本数ベスト10” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2008. 
  82. ^ “PEAKS PCnewsWEB” (bằng tiếng Nhật). Peakspub. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2007. 
  83. ^ “PEAKS PCnewsWEB” (bằng tiếng Nhật). Peakspub. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007. 
  84. ^ “PEAKS PCnewsWEB” (bằng tiếng Nhật). Peakspub. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007. 
  85. ^ “PEAKS PCnewsWEB” (bằng tiếng Nhật). Peakspub. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007. 
  86. ^ “"Now Playing in Japan"” (bằng tiếng Anh). IGN. 29 tháng 9 năm 2000. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2007. 
  87. ^ “Famitsu Scores for the Week of 02/20/2002”. Famitsu (bằng tiếng Anh). Tháng 2 năm năm 2002. “Kanon (PS2, NEC Interchannel): 7 / 8 / 7 / 7 - (29/40)” 
  88. ^ “読者が選ぶ MY BEST ギャルゲーランキング 電撃G'smagazine.com” [Reader Chosen MY BEST Girl Game Ranking Dengeki G's magazine.com] (bằng tiếng Nhật). ASCII Media Works. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011. 
  89. ^ “【アンケート結果発表】感動して泣いてしまったゲームはありますか?” (bằng tiếng Nhật). Dengeki Online. 15 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2011. 
  90. ^ a ă â D.SV. “エディターレビュー” (bằng tiếng Nhật). Myreview.jp. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2010. 
  91. ^ “Air information and synopsis” (bằng tiếng Anh). Hentai.co.uk. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2007. 
  92. ^ “Kanon information and synopsis” (bằng tiếng Anh). Hentai.co.uk. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2007. 
  93. ^ Pesimo, Rudyard Contretas (2007). “'Asianizing' Animation in Asia: Digital Content Identity Construction Within the Animation Landscapes of Japan and Thailand”. Reflections on the Human Condition: Change, Conflict and Modernity - The Work of the 2004/2005 API Fellows. The Nippon Foundation. tr. tr. 124–160. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2010. 
  94. ^ “Girl games come of age” (bằng tiếng Anh). Freetype.net. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |acessdate= (gợi ý |accessdate=) (trợ giúp)
  95. ^ VAT69. “エディターレビュー” (bằng tiếng Nhật). Myreview.jp. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2010. 
  96. ^ Martin, Theron (22 tháng 12 năm 2007). “Kanon DVD 1 Review” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2009. 
  97. ^ Martin, Theron (8 tháng 4 năm 2008). “Kanon DVDs 2-3 Review” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2009. 
  98. ^ Martin, Theron (29 tháng 7 năm 2008). “Kanon DVDs 4-5 Review” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2009. 
  99. ^ Martin, Theron (29 tháng 11 năm 2008). “Kanon DVD 6 Review” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2009. 
  100. ^ モの付く自由業&泥縄お仕事募集&サンプル小説公開のお知らせ. スズモトジェイピー (bằng tiếng Nhật). Tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2008. 
  101. ^ Satoshi Todome. 初心者のための現代ギャルゲー・エロゲー講座: 第3集 それは"えいえんのせかい"から始まった. kyo-kan.net (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2008. 
  102. ^ “A History of Eroge: Chapter Three - "Crying games" hit the standard” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2008. 
  103. ^ Twilight Frontier. Eternal Fighter Zero (bằng tiếng Nhật) PC. Twilight Frontier. 
  104. ^ Twilight Frontier. Glove on Fight (bằng tiếng Nhật) PC. Twilight Frontier. 
  105. ^ Fred Gallagher. “MegaTokyo - (67) Saving Points” (bằng tiếng Anh). Fredart Studios. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2009. 
  106. ^ “A PlayStation 2 Printer” (bằng tiếng Anh). Allrpg.com. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2009. 
  107. ^ “「KANON」月宮あゆ (マスコットB付き)” (bằng tiếng Nhật). Movic. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2008. 
  108. ^ “Kanon(カノン) 月宮 あゆ (MAX版)” (bằng tiếng Nhật). Kotobukiya. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2008. 
  109. ^ “Kanon (カノン) 月宮あゆ (完成品)” (bằng tiếng Nhật). Kotobukiya. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2008. 
  110. ^ “Kanon 月宮 あゆ” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2008. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]