Karl Popper

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sir Karl Raimund Popper
Thời đại Triết học Thế kỷ 20
Lĩnh vực Triết học phương Tây
Trường phái Analytic
Chủ nghĩa duy lý phê phán · Fallibilism
Evolutionary epistemology
Sở thích Nhận thức luận
Triết học khoa học
Triết học xã hộiTriết học chính trị
Ý tưởng nổi trội Falsifiability
Hypothetico-deductive method
Xã hội mở

Sir Karl Popper (28 tháng 6 năm 1902 – 17 tháng 9 năm 1994) là một nhà triết học người Áo, người đề xuất các ý tưởng về một xã hội mở, một xã hội mà ở đó sự bất đồng chính kiến được chấp nhận và đó được xem như một tiền đề để tiến tới việc xây dựng một xã hội hoàn thiện. Ông cũng được xem như là người sáng lập Chủ nghĩa Duy lý phê phán (Critical rationalism).

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Karl Popper sinh tại Viên năm 1902, là con một luật sư giàu có. Thân mẫu ông là người Do Thái cải đạo theo Tin Lành. Popper lớn lên trong một gia đình mà sách và âm nhạc luôn đóng vai trò quan trọng. Ngay từ khi còn trẻ Popper đã chú ý đến những câu hỏi về triết học. Năm 1918 Popper rời trường trung học đến nghe giảng tại trường Đại học Wien (Universität Wien) về các bộ môn toán, lịch sử, tâm lý học, vật lý lý thuyết và triết học.

Từ 1920 đến 1922 ông học tại Trường Âm nhạc Wien (Wiener Konservatorium), khoa nhạc nhà thờ, thế nhưng chẳng bao lâu lại hủy bỏ ý định trở thành nhạc sĩ.

Khi Poper bắt đầu học đại học vào năm 1924, phái cánh tả chiếm ưu thế về chính trị. Thời gian này là giai đoạn cao trào của thời kỳ Wien Đỏ (1918-1934). Popper đã hoạt động tích cực trong phong trào thanh niên xã hội chủ nghĩa. Sau khi chứng kiến 8 người bị giết chết trong các xung đột đầy bạo lực giữa những người cộng sản và cảnh sát Wien, ông rời bỏ Chủ nghĩa Marx và trở thành một người phê phán chủ nghĩa này một cách cương quyết.

Ông tốt nghiệp khóa đào tạo sư phạm vào năm 1924, thế nhưng do không có nơi nhận làm thầy giáo nên ông đã làm việc trong một cơ sở xã hội giáo dục trẻ em. Năm 1925 ông theo học tại Viện sư phạm. Năm [1928 ông bảo vệ luận án phó tiến sĩ tại nhà tâm lý học và ngôn ngữ học Karl Bühler. Thông qua những năm học tập này Popper đã làm quen với thuyết tâm lý học của Oswald Külpe và "trường phái Würzburg", những việc đã có ảnh hưởng quyết định đến quan điểm về sư phạm và sau này là đến thuyết nhận thức của ông.

Năm 1930 Popper được nhận vào làm thầy giáo tại một trường trung học ở Wien. Ông dạy tại trường này cho đến năm 1935 và cũng trong năm này ông kết hôn với người nữ đồng nghiệp là bà Josefine Anna Henninger.

Khi bắt đầu tiếp xúc với "Nhóm Wien" chung quanh Moritz Schlick, Rudolf CarnapOtto Neurath, Karl Popper bắt đầu đặt bút viết những dòng tư tưởng về triết học của ông. Thế nhưng đặc biệt là Schlick đã tách ly khỏi Popper, người đã phê phán quan điểm thực chứng lôgic và chỉ trích thái độ nóng nảy của ông. Vì thế Popper không còn được mời dự các cuộc họp của Nhóm Wien nữa.

Herbert Feigl đã động viên ông tiếp tục viết, việc Popper bắt đầu sau một thời gian lưỡng lự. Trong khoảng thời gian ba năm ông viết một bản thảo mà ngày nay chỉ còn tồn tại một phần. Phần còn lại của bản thảo này được ấn hành năm 1934 dưới dạng rút ngắn với tựa đề Logik der Forschung (Lôgic của việc nghiên cứu) và mãi đến năm 1979 mới được xuất bản dưới tựa đề Die beiden Grundprobleme der Erkenntnistheorie (Hai vấn đề cơ bản của nhận thức luận). Trong thời gian này ông đã tiếp xúc với Werner HeisenbergAlfred Tarski.

Tác phẩm chính về triết học của khoa học "Lôgíc của nghiên cứu" cuối cùng đã được phát hành trong các tập san của "Nhóm Wien" mặc dù trong đó Popper đã phê phán chủ nghĩa thực chứng của nhóm này. Luận bản của Popper đã được thành viên của Nhóm Wien đánh giá như là một tác phẩm thành hình từ các thảo luận của nhóm. Ngày nay, tính khả phản bác được trình bày trong tác phẩm của Popper được xem như là cơ sở cho việc nghiên cứu khoa học hiện đại.

Từ 1935 đến 1936 Popper sang Anh một vài tháng, nơi ông gặp gỡ Erwin Schrödinger, Bertrand RussellErnst Gombich. Ông đã đàm thoại rất nhiều với Schrödinger và tiếp xúc với Friedrich von Hayek. Tình hình chính trị tại Áo trong thời gian này ngày càng trở nên căng thẳng, vì thế ông đã nhận lời mời giảng dạy tại Canterbury University College trong ChristchurchNew Zeeland. Năm 1937 Popper cùng vợ xin nghỉ dạy và di dân đến New Zeeland. Cho đến năm 1945, 16 người thân quyến của ông đã bị Đức Quốc Xã giết hại. Ra đời trong thời gian này là tác phẩm The Poverty of Historicism (Sự khốn cùng của chủ nghĩa lịch sử) cũng như là The Open Society and Ist Enemies (Xã hội mở và những kẻ thù của nó), tác phẩm đã mang lại cho ông danh tiếng của một nhà chính trị học. Đặc trưng cho các tác phẩm triết học của ông là việc tìm kiếm một tiêu chuẩn đáng tinh cậy cho tính duy lý khoa học.

Trong mùa đông 1944/1945 nhờ vào sự giúp đỡ của Friedrich August von Hayek, Popper nhận được lời mời giảng dạy tại der London School of Economics (LSE) and Political Science. Đầu tháng 1 năm 1946 vợ chồng Popper đến London, nơi ông bắt đầu là giáo sư giảng dạy. Song song với đó, từ năm 1949 ông là giáo sư tại trường Đại học London của bộ môn "Lôgíc và phương pháp khoa học".

Năm 1965 Popper được Nữ hoàng Elisabeth II phong tước hiệp sĩ. Năm 1969 ông ngưng giảng dạy nhưng vẫn tiếp tục viết sách. Năm 1992 ông được Viện Goethe của Đức trao tặng Huy chương Goethe. Ông là thành viên của Mont Pelerin Society do Hayek thành lập, của Royal Society cũng như là của International Academy of Science.

Popper mất vào ngày 17 tháng 9 năm 1994 tại London.

Những tác phẩm chính của Popper[sửa | sửa mã nguồn]

  • Logic của khám phá khoa học (1934)
  • Xã hội mở và những kẻ thù của nó (1945)
  • Sự khốn cùng của chủ nghĩa lịch sử (1976)

Những câu nói nổi tiếng của Karl Popper[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Dần dần nghề xây dựng xã hội giống nghề xây dựng công trình vật chất ở chỗ nhìn cứu cánh là nằm ngoài phạm vi công nghệ học".
  • "Khoa học có lẽ là hoạt động duy nhất của con người mà ở đó sai lầm được phê phán một cách hệ thống và... cuối cùng được hiệu chỉnh".

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]