Karlsruhe (tàu tuần dương Đức)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Karlsruhe h98277.jpg
Tàu tuần dương Karlsruhe năm 1934, trình bày tháp pháo đuôi bố trí lệch khỏi trục giữa
Phục vụ (Đức) KM Ensign War Ensign of Germany 1938-1945.svg
Tên gọi: Karlsruhe
Đặt tên theo: Karlsruhe
Hãng đóng tàu: Deutsche Werke, Kiel
Đặt lườn: 27 tháng 7 năm 1926
Hạ thủy: 20 tháng 8 năm 1927
Nhập biên chế: 6 tháng 11 năm 1929
Số phận: Bị tàu ngầm Anh Truant đánh chìm ngoài khơi Kristiansand, 9 tháng 4 năm 1940
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương K
Trọng tải choán nước: 8.130 tấn Anh (8.260 t) (đầy tải)
Độ dài: 174 m (570 ft 10 in)
Sườn ngang: 15,3 m (50 ft 2 in)
Mớn nước: 6,28 m (20 ft 7 in)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước
6 × nồi hơi
2 × động cơ diesel MAN 10 xy lanh
2 × trục
công suất 69.800 ihp (52.000 kW)
Tốc độ: 30 hải lý một giờ (56 km/h; 35 mph)
Tầm xa: 5.200 nmi (9.630 km; 5.980 mi) ở tốc độ 19 hải lý một giờ (35 km/h; 22 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
820-850
Vũ trang:

9 × Hải pháo 15 cm SK C/25 (3×3);
6 × pháo phòng không 8,8 cm Flak 18 (3×2);
8 × pháo phòng không 3,7 cm Flak 18 (4×2);
8 × pháo phòng không 2 cm Flak 30;
12 × ống phóng ngư lôi 533 mm (21,0 in) (4×3);

120 × mìn
Bọc giáp: đai giáp chính: 50-70 mm;
sàn tàu: 40 mm;
tháp pháo: 20 mm;
tháp chỉ huy: 100 mm
Máy bay mang theo: 2 × thủy phi cơ Heinkel He 60

Karlsruhe là một tàu tuần dương hạng nhẹ thuộc lớp tàu tuần dương K được Hải quân Đức đưa ra hoạt động giữa hai cuộc thế chiến. Nó đã phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, và đã bị tàu ngầm Anh Truant đánh chìm ngoài khơi Kristiansand, Na Uy ngày 9 tháng 4 năm 1940 trong Chiến dịch Na Uy.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Lớp tàu tuần dương K, vốn còn bao gồm các tàu chị em KönigsbergKöln, được thiết kế trong những năm 1920 trong giới hạn tải trọng 6.000 tấn đặt ra bởi Hiệp ước Versailles. Chúng sử dụng cả hai loại động cơ turbine hơi nướcđộng cơ diesel; và do 85% kết cấu con tàu được hàn thay vì nối bằng đinh tán, chúng mắc phải những vấn đề về độ bền kết cấu và độ ổn định khi đi biển.

Được đặt tên theo thành phố Karlsruhe, nó được đặt lườn tại xưởng tàu Deutsche WerkeKiel vào ngày 27 tháng 7 năm 1926; được hạ thủy vào ngày 20 tháng 8 năm 1927 và được đưa ra hoạt động vào ngày 6 tháng 11 năm 1929.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Karlsruhe trở thành một tàu huấn luyện và đã thực hiện chuyến đi quanh thế giới, nhưng sự yếu kém trong kết cấu lườn tàu buộc nó phải được sửa chữa kết cấu và tái trang bị tại San Diego trong chuyến đi. Trong những năm 1930, chiếc tàu tuần dương thực hiện một số chuyến đi huấn luyện ở nước ngoài cùng một số hoạt động hạm đội. Vào tháng 1tháng 2 năm 1937, nó tuần tra dọc theo bờ biển Tây Ban NhaBồ Đào Nha vào lúc diễn ra cuộc Nội chiến Tây Ban Nha.

Vào đầu tháng 4 năm 1940, Karlsruhe tham gia Chiến dịch Weserübung, cuộc tấn công chiếm đóng Na Uy. Nó nằm trong thành phần Đội đặc nhiệm 4 cùng với các tàu phóng lôi Seeadler, GreifLuchs đảm nhiệm việc vận chuyển binh lính, và đã tiến đến Kristiansand, Na Uy vào những giờ đầu tiên của ngày 9 tháng 4. Trong chuyến quay trở về Đức ngay buổi chiều tối hôm đó, tàu ngầm Anh Truant đã tấn công Karlsruhe ngoài khơi Kristiansand, đánh trúng nó bằng một quả ngư lôi làm hư hại cả hai động cơ và máy phát điện. Tàu phòng ngư lôi Greif đã vớt những người còn sống sót trong số thủy thủ đoàn, rồi đánh chìm con tàu bị hư hại với hai quả ngư lôi lúc 22 giờ 50 phút đêm hôm đó.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 58°04′B 8°04′Đ / 58,067°B 8,067°Đ / 58.067; 8.067