Katyusha (bài hát)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"Katyusha"
Bài hát
Công bố Công bố
Phát hành Phát hành
Thể loại Thể loại nhạc
Sáng tác Mikhail Vasilyevich Isakovsky
Soạn nhạc Matvei Isaakovich Blanter

Katyusha (tiếng Nga: Катюша, thường được ghi trong tiếng Việt là Cachiusa) là bài hát nổi tiếng của Liên Xô trong thời kỳ chiến tranh vệ quốc.

Bài hát nói về một người con gái chờ đợi người yêu của mình, khi đó đang phục vụ trong quân đội. Bài hát được Matvei Isaakovich Blanter phổ nhạc 27 tháng 11 năm 1938 và được Mikhail Vasilyevich Isakovsky viết lời. Katyusha được nữ ca sĩ nổi tiếng Lidiya Ruslanova biểu diễn đầu tiên.

Một vài nhà phê bình cho rằng bài hát Katyusha không phải là tác phẩm của Blanter, do giai điệu tương tự như vậy đã được Igor Stravinsky sử dụng trong vở opera Mavra của ông vào năm 1922, và sau đó nó được ông sửa lại để đưa vào vở Chanson Russe vào năm 1937.

Bài hát Katyusha với ngôn từ êm dịu bắt nguồn từ tên phái nữ Ekaterina. Ở Nga, nhiều tên người còn có tên thân mật ngoài tên chính thức, ví dụ tên thân mật của Natalia là Natasha, tên thân mật cao hơn nữa là Natashenka. Trong trường hợp của Ekaterina, Katya là tên thân mật còn Katyusha là tên thân mật cao hơn.

Bài hát Nga này còn tạo cảm hứng để người Nga đặt tên cho các dàn phóng tên lửa của mình là Katyusha BM-8, BM-13 và BM-21, được sản xuất và trang bị cho Hồng quân Xô viết trong Đệ nhị thế chiến giai đoạn 1939-1945.

Bài hát tiếng Ý với giai điệu của Katyusha[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc kháng chiến chống cuộc xâm lược của Đức Quốc Xã (1943 - 1945), Felice Cascione (1918 - 1944) đã viết lời tiếng Ý cho bài hát tiếng Nga Katyusha. Bài hát với tên gọi Fischia il vento ("Gió thổi") cùng với Bella ciaoLa Brigata Garibaldi trở thành một trong những bài hát cổ động nổi tiếng nhất.

Bài hát tiếng Nhật, không liên hệ với Cachiusa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài phiên bản Xô viết, còn có một phiên bản khác, dường như là hoàn toàn cách biệt, "Bài hát Kachūsha" (カチューシャの歌, Kachūsha no Uta) đã trở thành phổ biến tại Nhật Bản vào đầu thế kỷ 20.

Ở Nhật Bản nó được Nakayama Shimpei soạn nhạc theo thể thức ngũ thanh. Matsui Sumako đã trình diễn bài hát Kachiusa trong vở kịch "Phục sinh" dựa trên tác phẩm cùng tên của Lev Tolstoy tại Tokyo năm 1914, bài hát đạt được thành công lớn, với số lượng đĩa bán ra lớn, và được các nhạc công hè phố biểu diễn trong cả Đế quốc Nhật Bản. Nó đã được một số nhà viết sử âm nhạc coi như là ví dụ đầu tiên về âm nhạc quần chúng của Nhật Bản hiện đại.

Text[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên bản:
Катюша
Phiên âm:
Katyusha
Dịch thơ:
Katyusha

Расцветали яблони и груши,
Поплыли туманы над рекой.
Выходила на берег Катюша,
На высокий берег на крутой.

Выходила, песню заводила
Про степного, сизого орла,
Про того, которого любила,
Про того, чьи письма берегла.

Ой ты, песня, песенка девичья,
Ты лети за ясным солнцем вслед.
И бойцу на дальнем пограничье
От Катюши передай привет.

Пусть он вспомнит девушку простую,
Пусть услышит, как она поет,
Пусть он землю бережет родную,
А любовь Катюша сбережет.

Rastsvetali yabloni i grushi,
Paplyli tumany nad rekoy.
Vykhodila na bereg Katyusha,
Na vysokii bereg na krutoy.

Vykhodila, pesnyu zavodila
Pro stepnogo, sizogo orla,
Pro togo, katorogo lyubila,
Pro togo, ch'i pis'ma beregla.

Oy ty, pyesnya, pyesenka devich'ya,
Ty leti za yasnym solntsem vsled.
I boytsu na dal'nem pogranich'e
Ot Katyushi peredai privyet.

Pust' on vspomnit devushku prostuyu,
Pust' uslyshit, kak ona payot,
Pust' on zemlu berezhyet rodnuyu,
A lyubov' Katyusha sberezhyot.

Lê và táo nở hoa
Sương giăng trên sông vắng
Cachiusa ra bến
Trên bờ cao năm nào.

Nàng cất lên bài hát
Về đại bàng, thảo nguyên
Về một người yêu thương
Mà thư nàng vẫn đọc.

Ôi, bài ca thiếu nữ
Hãy bay theo mặt trời
Về biên cương xa xôi
Trao lời thăm hỏi nhé.

Để chàng nhớ về em
Để chàng nghe câu hát
Chàng giữ gìn tổ quốc
Tình yêu – em giữ gìn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]