Khô bò

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Gỏi đu đủ khô bò (cách gọi trong Nam) hay nộm bò khô (cách gọi ngoài Bắc).

Khô bò hay thịt bò khôthịt bò lọc bỏ mỡ, đem ướp gia vị mặn ngọt rồi sấy khô ở nhiệt độ thấp (khoảng 70°C). Thịt này đôi khi được đem muối hoặc phơi nắng. Kết quả là một loại thức ăn chơi có thể giữ lâu ngày mà không cần cất tủ đá hay tủ lạnh.

Chế biến[sửa | sửa mã nguồn]

Khô bò được chế biến bằng thịt bò tươi, ngon nhất là bắp đùi sau của . Các gia vị tẩm ướp có thể gồm quế, cam thảo, đinh hương, tiểu hồi, đại hồi, thảo quả, vỏ quít, ớt, gừng, hạt tiêu, hành, đường trắng, rượu, tỏi v.v.

Thịt dùng làm khô bò ngày nay được sấy khô bằng lò lửa để tạo hơi nóng và quạt để hút khí ẩm. Hai yếu tố gió và nhiệt độ nóng làm thịt khô lại trước khi vi khuẩn có cơ hội len lỏi vào làm hư thối thịt.

Trước khi sấy, thường thịt phải được lạng bỏ mỡ khỏi phần nạc, vì mỡ khó khô và dễ làm cho sản phẩm chóng hỏng.

Ngoài thịt bò, nhiều loại thịt khác cũng có thể dùng làm thịt khô như thịt nai, cá sấu, đà điểu, và .

Thưởng thức[sửa | sửa mã nguồn]

Khô bò có màu đỏ nâu sẫm, hương thơm đậm đà, độ ngọt mặn vừa phải, dai nhưng không cứng. Tuy là sản phẩm rất thích hợp để nhắm với rượu, khô bò cũng thường được sử dụng như một nguyên liệu chính, kết hợp với đu đủ xanh bào sợi, lạc rang v.v. dể làm món nộm bò khô[1][2].

Khô bò khi ăn với chanh tạo hương vị đậm đà khó cưỡng

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]