Khương Đại Vệ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
姜大卫
(Khương Đại Vệ)
Minh la phan cua chu ay do 2014-02-27 16-33.jpg
Tên khai sinh Khương Vĩ Niên (John)
Sinh 29 tháng 6, 1947 (67 tuổi)
Tô Châu
Tên khác David
Hôn nhân Lý Lâm Lâm (vợ)

Khương Đại Vệ (Hoa phồn thể: 姜大衛, Hoa giản thể: 姜大卫, bính âm: Jiāng Dàwèi, tiếng Anh: David Chiang Dawei) (sinh ngày 29 tháng 6 năm 1947) là một diễn viên của rất nhiều bộ phim Hồng Kông ăn khách trong thập niên 70 và 80.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khương Đại Vệ tên thật là Khương Vỹ Niên, tên tiếng AnhDavid, anh sinh ngày 29 tháng 6 năm 1947, tại Tô Châu, cha là Nghiêm Hóa - nam diễn viên nổi tiếng thập niên 40. Ông Nghiêm Hóa tên thật là Khương Khắc Kỳ, nam 1937 bắt đầu sự nghiệp đóng phim ở Thượng Hải. Năm 1942, khi tham gia phim điện ảnh Xuân, ông yêu và kết hôn với nữ diễn viên Hồng Vy, sinh được 3 cậu con trai và 1 cô con gái. Cậu con trai thứ hai Khương Khương Niên và con trai thứ ba Khương Vĩ Niên chính là hai nam diễn viên Tần Bái và Khương Đại Vệ.

Năm 1947, Nghiêm Hoá và gia đình di cư sang Hong Kong. Trong vòng 3 năm, ông đóng hơn 20 bộ phim. Năm 1951, Nghiêm Hoá mất do bệnh ung thư, hưởng dương 33 tuổi. Chồng mất sớm, một mình Hồng Vy tần tảo nuôi dạy 4 đứa con thành người. Hồng Vy không phải là diễn viên nổi tiếng, bà chỉ đóng vai phụ, lúc không đóng phim, bà làm giáo viên dạy tiếng Quan Thoại, thu nhập thấp nên không đủ trang trải chi tiêu cho các con. Do đó, khi Tần Bái được 6 tuổi, Khương Đại Vệ mới 4 tuỗi, hai anh em họ đã đi đóng phim kiếm tiền phụ giúp mẹ, lấy nghệ danh Nghiêm Sương và Nghiêm Vĩ.

Năm 1957, Hồng Vy tái hôn với nhà chế tác Nhĩ Quang, người sáng lập ra công ty điện ảnh Tân Thiên. Kết quả của cuộc tình mới đã sinh ra Nhĩ Đông Thăng, hiện là đạo diễn nổi tiếng ở Hong Kong. Bộ phim đầu tiên Nhĩ Quang sản xuất là Thiên Thần trên đường phố, quy tụ dàn diễn viên gia đình: Hồng Vy, Nghiêm Xương, Nghiêm Vỹ, Nghiêm Tuệ (em gái của Tần Bái và Khương Đại Vệ). Năm 1958, Nhĩ Quang thực hiện tiếp bộ phim Trẻ lang thang. Đây cũng là cuộc tổng động viên cả nhà cùng tham gia đóng phim.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài đóng phim cho gia đình, Khương Đại Vệ còn là diễn viên nhí ăn khách, tạo đựơc sự chú ý cho các nhà làm phim ngay từ bộ phim đầu tay Xác chết trong nhà tắm, hợp tác với nữ diễn viên Âu Dương Sa Phi. Do lối diễn xuất tự nhiên, không rụt rè, nên cậu diễn viên nhí Nghiêm Vỹ đựơc lăng xê tiếp trong các bộ phim: Cô Mai, Mùa xuân tươi đẹp,...

Thời tiểu học, Khương Đại Vệ phải vừa học vừa đóng phim, vô cùng vất vả. Lên trung học, Khương Đại Vệ không còn hứng thú với việc học, bị lưu ban hai lần, đến 17 tuổi mới tốt nghiệp trung học. Thế nên, Khương Đại Vệ quyết định nghỉ học đi tìm việc làm. Anh đã làm qua nhiều việc như nhân viên văn phòng, bán đồ cổ...song không có công việc nào ổn định lâu bền. Về sau, Khương Đại Vệ theo Tần Bái sang Đài Loan làm tạp vụ trong công ty điện ảnh của Huỳnh Trác Hán, đồng thời theo Đường Giai, Lưu Gia Lương tập võ. Sau này, khi đoàn làm phim Mỹ The sand Pebbles sang Đài Loan quay ngoại cảnh, Tần Bái có một vai phụ trong phim và ông đã giới thiệu Khương Đại Vệ làm võ sư.

Thập niên 1960 và 1970[sửa | sửa mã nguồn]

- Năm 1967, Khương Đại Vệ cùng Lưu Gia Lương trở về Hong Kong thực hiện bộ phim nói tiếng Quảng Đông. Do ngoại hình nhỏ con, thấp người nên Khương Đại Vệ thường đựơc mời đóng thế thân cho các nữ diễn viên.

- Một lần tình cờ, anh gặp đựơc Đường Giai, và Đường Giai khuyên anh nên gia nhập hãng Shaw Brother làm cascadeur. Bấy giờ, Đường Giai đang làm chỉ đạo võ thuật cho đạo diễn Trương Triệt. Lúc quay phim Kim Yến Tử, có 1 cảnh nhân vật phá cửa sổ, nhảy từ tầng 2 xuống. Khương Đại Vệ chỉ thực hiện 1 cảnh quay, khiến Trương Triệt rất hài lòng. Đạo diễn Trương Triệt hỏi Đừơng Giai, cậu thanh niên này là ai, khi biết Khương Đại Vệ là con trai của Nghiêm Hoá, Trương Triệt tạo cơ hội giúp đỡ nhiều hơn.

- Bắt đầu từ năm 1968, Trương Triệt âm thầm đào tạo gương mặt trẻ triển vọng. Khương Đại Vệ và Địch Long là 2 diễn viên sáng giá lọt vào mắt xanh của ông. Năm 1970, khi nam diễn viên Vương Vũ rời khỏi hãng phim Thiệu Thị, Trương Triệt ra sức nâng đỡ Khương Đại Vệ và Địch Long để thay thế. Trương Triệt mời Khương Đại Vệ ký hợp đồng làm diễn viên nhưng Khương Đại Vệ còn do dự, vì khi đó anh đang làm Long Hổ võ sư, thu nhập mỗi tháng 4000 - 5000 HK$, cao hơn nhiều so với 1 diễn viên hợp đồng bình thường. Sau vài ngày suy nghĩ, Khương Đại Vệ cũng đồng ý ký hợp đồng 3 năm. Anh nghĩ mình xuất thân giai đình diễn viên, trong khi anh ba Tần Bái tạo được tiếng tăm ở Đài Loan, vả lại không thề suốt đời làm võ sư.

- Sau khi quan sát Khương Đại Vệ và Địch Long "từ đầu đến chân", Trương Triệt phát hiện Khương Đại Vệ lãnh đạm, trầm tính còn Địch Long điển trai, cởi mở, nếu kết hợp lại, sự đối lập của họ thu hút đựơc khán giả. Gương mặt tuấn tú của Địch Long rất thích hợp đóng vai đại hiệp, còn vóc dáng phong trần, bốc đồng của Khương Đại Vệ lại phù hợp với các vai lãng tử. Tuy nhiên vì doanh thu phòng vé, Trương Triệt ưu tiên cho Địch Long thủ vai nam chính trong các bộ phim Tứ Giác, Thiết thủ vô tình, Hổ mọc cánh. Khương Đại Vệ chỉ thủ vai nam thứ chính.

- Chưa đầy 1 năm sau, Trương Triệt đã mạnh dạn giao cho Khương Đại Vệ đảm nhận vai nam chính trong phim Du Hiệp Nhi. Nhưng doanh thu phòng vé của Tứ giác và Du hiệp nhi không lạc quan lắm, may nhờ phim Bảo Tiêu kịp thời ra mắt cứu vãn tình thế, Khương Đại Vệ và Địch Long mới trở thành "tiểu sinh" tên tuổi của hãng phim Thiệu Thị.

- Thừa thắng xông lên, Trương Triệt thực hiện tiếp loạt phim: Báo thù, Thập tam thái bảo, Tiểu sát tinh, đều do Khương Đại Vệ và Địch Long đảm nhận vai trò diễn viên trụ cột. Năm 1970, Khương Đại Vệ đang ở HK đóng phim Thập tam thái bảo, nhận được tin mình đoạt giải, anh không dám tin. Khi đoàn về Hong Kong tận tay trao giải thưởng, anh mới tin đây là sự thật. Năm đó, Khương Đại Vệ chưa đầy 30t

- Sau khi nhận giải thưởng, bị dư luận chê cười là "ảnh đế bị co lại" do chiều cao khiêm tốn của mình. Cũng vào thời gian đó, có tin đồn Địch Long đố kị Khương Đại Vệ đựơc trao giải, giữa hai người xảy ra chuyện "bằng mặt không bằng lòng". Nhưng rồi thời gian đã chứng minh, sự bất hoà giữa họ chỉ là tin đồn nhảm. Khi đạo diễn bộ phim đầu tay Kẻ Nghiện ngập, Khương Đại Vệ đã mời Địch Long đóng vai chính. Đổi lại, lúc Địch Long đạo diễn phim Hậu sinh, cũng mời Khương Đại Vệ cùng đóng vai chính với mình...

- Mùa thu năm 1970, công ty điện ảnh Gia Hoà thực hiện bộ phim Độc thủ đại hiệp đại chiến hiệp sĩ mù, do Vương Vũ và Thắng Tân Thái Lang hợp diễn. Hãng phim Thiệu Thị lập tức tìm đối sách, một mặt kiện Gia Hoà xâm phạm bản quyền phim "Độc thủ đại hiệp", do Địch Long và Khương Đại Vệ thủ vai chính. Tháng 2 năm 1971, Độc thủ đại hiệp đại chiến hiệp sĩ mù và Tân độc thủ đại hiệp đựơc trình chiếu cùng lúc, gây chấn động dư luận báo chí một thời. Còn nhớ năm 1968, khi Vương Vũ đóng phim Độc thủ đại hiệp, Khương Đại Vệ vẫn còn là võ sư vô danh, không ngờ 3 năm sau, họ lại có dịp phân tài cao thấp. Điều khiến mọi người ngạc nhiên là khi Vương Vũ và Khương Đại Vệ gặp nhau ở Đài Loan, kết thành bạn thân, họ hùn vốn thành lập công ty điện ảnh Vương Khương vào nam 1977, cùng đạo diễn và diễn xuất trong phim Độc thù song hùng.

- Năm 1973, nhờ bộ phim Phản nghịch, Khương Đại Vệ đoạt giải "Nam diễn viên có cá tính nhất" tại liên hoan phim Châu Á. Sự nghiệp của anh tiến thêm 1 bước mới, các tin đồn tình cảm cũng xuất hiện liên tục.

- Sau khi đạo diễn thành công phim Kẻ nghiện ngâp và Người lạ chuyện lạ. Khương Đại Vệ cảm thấy rất có hứng thú với công việc chỉ đạo diễn xuất. Vào năm 1976, anh tự biên tự diễn bộ phim xã hội đen Tử tù.

Thập niên 1980 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

- Năm 1981, Khương Đại Vệ cùng em trai Nhĩ Đông Thăng thành lập công ty Nguyên Hanh, đạo diễn bộ phim Cú mèo.

- Năm 1980, nhận lời mời của Chủ tịch ban quan trĩ điều hành ATV, Khương Đại Vệ đóng vai Tăng Tịnh trong bộ phim truyền hình rất đựơc khán giả yêu thích - Đại nội quần anh. Tiếp đó, anh thực hiện bộ phim Võ hiệp Đế nữ hoa, rồi mới chuyển sang TVB đóng phim truyền hình. Những năm gần đây, Khương Đại Vệ thường xuyên có mặt trên các phim trường Trong Quốc, Đài Loan. Hiện Khương Đại Vệ là diễn viên gạo cội ăn khách trên cả ba bờ đại dương Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông.

Các phim đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa phim Tựa phim tiếng Hoa / Anh Vai diễn Giải thưởng / Đề cử
1952 Xác Chết Trong Nhà Tắm 澳门大血案 / Beautiful Corpse in the Bath
Cận Thủy Lâu Đài 近水樓台 / The Closer, The Better
1953 Bích Vân Thiên 碧雲天 / Green Heaven
1954 Trở Về 歸來 / Come Back, My Dear Tiểu Minh
1955 Hữu Khẩu Nản Ngôn 有口難言 / Unspeakable Truth Bobby
1956 Mang Luyến 盲戀 / Always In My Heart
Mai Cô 梅姑 / The Orphan Girl
1957 Thiên Sứ Đường Phố 馬路小天使 / Little Angel of the Street Tứ Nguyên
Xuân Quang Vô Hạn Hảo 春光無限好 / A Mellow Spring
1958 Lưu Lãng Nhi 流浪儿 / Nobody's Child Hắc Bì
Phúc Lộc Đầy Nhà 全家福 / The Blessed Family
1959 Giang Sơn Mỹ Nhân 江山美人 / The Kingdom and the Beauty
1960 Khổ Hải Cô Sô 苦海孤雛 / The Orphans
Nhai Đồng 街童 / Street Boys Đại Minh
Nụ Hôn Thứ Hai 第二吻 / Kiss Me Again
1961 Vạn Lý Tầm Thân Ký 萬里尋親記 / The Search of the Loved One
Vân Khai Kiến Minh Nguyệt 雲開見月明 / Till the Clouds Roll By
1968 Nhất Thốn Tương Tư Vị Liễu Tình 一寸相思未了情 /
1969 Bảo Phiêu 保鏢 / Have Sword, Will Travel
Xử Giác 死角 / Dead End
Thiết Thủ Vô Tình 鐵手無情 / The Invisible Fist
1970 Tiểu Sát Tinh 小煞星 / The Singing Killer
Thập Tam Thái Bảo 十三太保 / The Heroic Ones Lý Tồn Hiếu
Báo Thù 報仇 / Vengeance Nam Diễn Viên Chính Xuất Sắc tại Liên hoan phim châu Á-Thái Bình Dương
Du Hiệp Nhi 游俠兒 / The Wandering Swordman
1971 Hưởng Vĩ Truy Hồn Tiên 响尾追魂鞭 /
Tân Độc Tý Đao 新獨臂刀 / The New One Armed Swordsman
Vô Danh Anh Hùng 無名英雄 / The Anonymous Heroes
Song Hiệp 雙俠 / The Deadly Duo
Đại Quyết Đấu 大決鬥 / The Duel
Quyền Kích 拳擊 / Duel of Fists
1972 Niên Kinh Nhân 年輕人 / Young People
Quần Anh Hội 群英會 / Trilogy of Swordsmanship
Ác Khách 惡客 / The Angry Guest
Tứ Kỵ Sĩ 四騎士 / Four Riders
Thủy Hử Truyện 水滸傳 / The Water Margin
1973 Tạo Phản 叛逆 / The Generation Gap Nam Diễn Viên Chính Xuất Sắc tại Liên hoan phim châu Á-Thái Bình Dương
Thích Mã 刺馬 / The Blood Brothers Nam Diễn Viên Chính Xuất Sắc tại Liên hoan phim Kim Mã
Trương Bảo Tử Đại Hải Đạo 張保仔大海盜 / The Pirate
1974 Thiếu Lâm Ngũ Tổ 少林五祖 / Five Shaoling Masters
Thất Kim Thi 七金屍 / Dracula and the 7 Golden Vampires
Bằng Hữu 朋友 / Friends
Quái Nhân Quái Sự 怪人怪事 / A Mad World of Fools
Ngũ Hổ Tướng 五虎將 / The Savage Five
1975 Khuynh Quốc Khuynh Thành 傾國傾城 / The Empress Dowager
Đích Sĩ Đại Lão 的士大佬 / The Taxi Driver
Thất Diện Nhân 七面人 / The Imposer
Hậu Sinh 後生 / The Young Rebel
Đảng Khấu Chí 蕩寇志 / All Men are Brothers
1976 Doanh Đài Khấp Huyết 瀛臺泣血 / The Last Tempest
Thiếu Lâm Tự 少林寺 / Shaolin Temple
Tử Tù 死囚 / The Condemned
Bát Đạo Lâu Tử 八道樓子 / Seven Man Army
1977 Giang Hồ Hán Tử 江湖漢子 / Magnificent Wanderers
Quyết Sát Lệnh 決殺令 / Judgment of an Assassin
Hải Xa Đột Kích Đội 海軍突擊隊 / Naval
1978 Đường Lang 螳螂 / Shaolin Mantis
Thập Tự Tảo Hầu Thủ 十字鎖喉手 / Shaolin Hand Lock
1979 Thích Quán 踢館 / The Challenger
Thiếu Lâm Anh Hùng Bảng 少林英雄榜 / Abbot of Shaolin
1980 Đệ Tam Loại Đả Đấu 第三類打鬥 / Heaven and Hell Gate
Tuyệt Đại Anh Hùng 絕代英雄 / Fight For Glory
Đại Nội Quần Anh 大內群英 / Dynasty Tăng Tịnh
1981 Ngoan Bì Trinh Thám Tam Du Long 頑皮偵探三遊龍 /
Thập Trương Vương Bài 十張王牌 / Play Con Game
Phi Đao, Tái Kiến Phi Đao 飛刀,又見飛刀 / Return of the Deadly Blade
Miêu Đầu Ngư 貓頭鷹 / The Legend of the Owl Phạm Sĩ Lâm
Võ Hiệp Đế Nữ Hoa 武俠帝女花 / Princess Cheung Ping Viên Nhược Phi
Bạch Mã Khiếu Tây Phong 白馬嘯西風 / Mã Gia Tuấn
1982 Tiểu Sinh Phạ Phạ 小生怕怕 / Till Death Do We Scare
Cửu Ưu Truy Hồn Kiếm 琥珀青龍 / Green Dragon Triệu Hiên
Hùng Bá Thiên Hạ 雄霸天下 / The Conquero Lý Long Phi
1983 Thiếu Gia Uy Uy 少爺威威 / Play Catch
Phong Linh Trung Đích Đao Thanh 風鈴中的刀聲 / Sword of Wind Chimes
1984 Thượng Hải Thập Tam Thái Bảo 上海灘十三太保 / Shanghai 13
Thiết Huyết Dương Gia Tướng 鐵血楊家將 / Liễu Thiên Trì
1985 Hạ Nhật Phúc Tinh 夏日福星 / Twinkle Twinkle Little Stars khách mời
1986 Đoạt Bảo Kế Thượng Kế 奪寶計上計 / From Here to Prosperity Gia Đại Ca
Phích Lịch Đại Lạc Bá 霹靂大喇叭 / Where's Officer Tuba
1987 Phúc Quý Bức Nhân 富貴逼人 / It's A Mad Mad World Tế Thúc
1988 Lâm Đầu Tỷ 林投姊 /
1989 Nghĩa Đảm Quần Anh 義膽群英 / Just Heroes A Vĩ
1992 Song Long Hội 雙龍會 / The Twin Dragons khách mời
Mộng Tỉnh Thời Phân 夢醒時分 / Marry From Beijin khách mời
Hoàng Phi Hồng II: Nam Nhi Đương Tự Cường 黃飛鴻 II:男兒當自強 / Once Upon a Time in China II Lục Hạo Đông
Thích Mã 刺馬 / The Blood Brothers Mã Tân Di
1993 Cửu Âm Chân Kinh 射鵰英雄傳之九陰真經 / The Mystery of the Condor Hero Hoàng Dược Sư
1994 94 Độc Tý Đao chi Tình 94獨臂刀之情 / What Price Survival Bạch Phục Quốc
Số Phận Kẻ Siêu Phàm 再見亦是老婆 / Fate of Clairvoyant Vu Lễ Hòa
1995 Đại Mạo Hiểm Gia 大冒險家 / The Adventure
Trời Ban Duyên Tình 天降奇緣 / A Good Match from Heaven Đinh Trường Thắng
Quan Trường Danh Thám 大捕快 / The Fist of Law Lạc Thiên
1996 Tốc Độ Truyền Thuyết 極速傳説 / The Legend of Speed khách mời
1997 Tuyết Hoa Thần Kiếm 雪花神劍 / The Show is Red La Huyền
1999 Kính Hoa Duyên Truyền Kỳ 鏡花緣傳奇 / The Love Story of the Fairyland Đường Ngao / Bạch Quả Đại Tiên / Bách Lý Xảo
1998 Luật Sư Lưu Manh 流氓•律師 / Lawyers Can Be Good John Dương Tá Minh
Càn Long Đại Đế 乾隆大帝 / War and Remembrance Tăng Tịnh
Luyến Luyến Quỳnh Dao 恋恋琼瑶 / The End of Love Generation Tiết Lực Hành
2000 Mái Ấm Tình Thâm 快活谷 / Wonder Bar Đinh Ninh
Tiếu Ngạo Giang Hồ 笑傲江湖 / State of Divinity Khúc Dương
2001 Cảnh Sát Phi Thường 非常好警 / Hong Kong Polices Huỳnh Côn
Tân Thục Sơn Kiếm Hiệp 新蜀山劍俠 / Dư Hải Phong
Lục Tiểu Phụng chi Quyết Chiến Tiền Hậu 陸小鳳之決戰前后 / Tử Y Hầu
2003 Thiếu Niên A Hổ 少年阿虎 / Star Runner ông nội của Bond
2004 Thưởng Than Đại Thượng Hải 抢滩大上海 / Bạch Hạo Nhiên
2005 Tảo Thục 早熟 / 2 Young khách mời
Hắc Xã Hội chi Long Thành Tuế Nguyệt 黑社会1.龙城岁月 / Election khách mời
Sư Phụ Hoàng Phi Hồng 我師傅係黃飛鴻 / Wong Feihung - Master of Kungfu Hoàng Kỳ Anh
Sóng Gió Khách Sạn 酒店風雲 / Revolving Doors of Vengeance Trịnh Vĩnh Phát Đề cử giải Nam Diễn Viên Phụ Xuất Sắc tại TVB Anniversary Awards
2006 Hoa Cúc Dại 雏菊 / Daisy Mr.Cho
Phúc Vũ Kiếm và Phiên Vân Đao 覆雨翻雲 / Lethal Weapons of Love and Passion Lãng Phiên Vân
Miền Đất Hứa 匯通天下 / Land of Wealth Kiều Bổn Nghiệp Đề cử giải Nam Diễn Viên Phụ Xuất Sắc tại TVB Anniversary Awards
Bố Y Thần Tướng 布衣神相 / Face to Fate Thẩm Tinh Nam
2007 Thử Thách Hôn Nhân 師奶兵團 / The Family Link Cao Vĩnh Quyền Đề cử giải Nam Diễn Viên Được Yêu Thích Nhất tại TVB Anniversary Awards
Thái Cực 太極 / Taichi Vu Trực
Kỳ Tích 奇迹 / Making Miracles Trần Quán Lân
Phiêu Hành Thiên Hạ 镖行天下 / The Gold Conveyors Vương Triệu Hưng
2008 Lấy Chồng Giàu Sang 珠光寶氣 / The Gem of Life Khang Thanh Dương
2009 Ai Làm Chủ Vận Mệnh Đất Nước 谁主沉浮 / Who Rules Over the Destiny of China Trần Bố Lôi
Tìm Kiếm Ngôi Sao 游龙戏凤 / Look For A Star
Hôn Nhân Chi Dưỡng 婚姻之痒 / Lâm Thiên
ID Tinh Anh ID精英 / The Threshold of a Persona Mạch Khởi Minh
Bản Sao 巴不得爸爸... / A Chip Off the Old Block Cao Sơn Tuyền Đề cử giải Nam Diễn Viên Phụ Được Yêu Thích Nhất tại AOD

Đề cử giải Nam Diễn Viên Phụ Xuất Sắc Nhất tại TVB 43rd Anniversary Award

Có Phòng Cho Thuê 有房出租 / Room to Let Lý Lâm Lâm
2010 Có Phòng Cho Thuê II 有房出租II / Room to Let II Lý Lâm Lâm
2011 Nữ Quyền 女拳 / Grace Under Fire Hoàng Phi Hồng Đề cử giải Nam Diễn Viên Chính Xuất Sắc tại Mingpao's 43rd Anniversary Award
Bất Tốc Chi Ước 不速之約 / Men With No Shadows Đường Kinh Thiên
Ái Tại Lang Kiều 爱在廊桥 / Love At the Porch Bridge Lâm Phúc Khôn
Tàng Tâm Thuật 藏心术 / Secrets of Heart Châu Sĩ Hồng
Tứ Lý Nhân Sinh 四季人生 / Four Seasons of Life
2012 Đổ Hải Mê Đồ 賭海迷徒 / A House of Gamblers A Toàn
Thiên Nhai Minh Nguyệt Đao 天涯明月刀 / The Magic Blade Hứa Ứng Thiên
Một Đời của Cô Ấy 她的一生 / Her Life Lý Đại Đồng

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]